Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm tại trường mầm non Ninh Giang
Bạn đang xem tài liệu "Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm tại trường mầm non Ninh Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
don_cong_nhan_sang_kien_mot_so_bien_phap_dam_bao_dinh_duong.docx
Nội dung tài liệu: Đơn công nhận Sáng kiến Một số biện pháp đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm tại trường mầm non Ninh Giang
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Trường mầm non Ninh Giang; Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây: Số Họ và tên Ngày Nơi công Chức Trình độ Tỷ lệ (%) TT tháng tác danh chuyên đóng góp năm sinh môn vào việc tạo ra sáng kiến 1 Võ Thị Tuyết Trinh 13/03/1988 Trường PHT ĐHSPMN MN Ninh Giang Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số biện pháp đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm tại trường mầm non. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý. - Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử (ghi ngày nào sớm hơn): 05/09/2022. - Mô tả bản chất của sáng kiến: Sức khỏe là món quà quý giá nhất của mỗi con người trong đó thực phẩm chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng hàng ngày cho cơ thể, giúp cơ thể khoẻ mạnh, chống lại các nguy cơ của bệnh tật đang có mặt ở khắp nơi trong môi trường, giúp con người hoạt động và làm việc. Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người. Trẻ lứa tuổi mầm non là giai đoạn phát triển quan trọng cả về thể chất và trí tuệ và mọi mặt. Trường mầm non là nơi chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ từ những năm tháng đầu đời. Thời gian trẻ ở trường mầm non nhiều hơn thời gian trẻ ở nhà. Dinh dưỡng cho trẻ những năm đầu đời là tiền đề, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển về mọi mặt sau này của đứa trẻ. Ở lứa tuổi này trẻ còn quá non nớt để tự bảo vệ mình, nên các nguy cơ xảy ra ngộ độc thực phẩm đối với trẻ là rất cao nếu như chúng ta thiếu đi một chút quan tâm, một chút trách nhiệm. Hiện nay vấn đề dinh dưỡng và an toàn thực phẩm đang là mối quan tâm lớn nhất của toàn xã hội, chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm liên quan đến cả quá trình từ hạt giống đến khâu chế. Nếu vệ sinh thực phẩm được đảm bảo thì trẻ sẽ được cung cấp tốt dinh dưỡng. Trong ngành học mầm non việc đảm bảo dinh
- 2 dưỡng và tổ chức khâu an toàn thực phẩm cho trẻ ăn bán trú đóng vai trò rất quan trọng. Vì vậy dinh dưỡng và an toàn thực phẩm giữ vai trò rất lớn đối với sức khỏe trẻ thơ, nó góp phần nâng cao sức học tập, lao động của trẻ trong xã hội ngày càng phát triển hiện nay. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tôi thấy có một số thuận lợi và khó như sau * Thuận lợi Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tạo điều kiện cho nhà trường về cơ sở vật chất đầy đủ, có bếp ăn đảm bảo quy trình bếp ăn một chiều, trang bị đầy đủ đồ dùng phục vụ cho việc tổ chức bán trú, có đầy đủ biểu bảng trong nhà bếp theo quy định. Ban giám hiệu nhà trường có đủ năng lực, được tiếp thu chương trình mới về nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ để chỉ đạo giáo viên, nhân viên thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình. Đội ngũ giáo viên, nhân viên yêu nghề mến trẻ có tinh thần trách nhiệm cao được phụ huynh tin tưởng. * Khó khăn Một số nhân viên cấp dưỡng thực hiện chế biến món ăn còn thụ động chưa phát huy tính sáng tạo. Một số trẻ vốn kiến thức kỹ năng về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Một số phụ huynh học sinh chưa có sự phối hợp tốt cùng giáo viên về các hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ khoa học và hợp lý. * Nguyên nhân khó khăn Lương của nhân viên nuôi dưỡng còn thấp, chưa được hợp đồng lâu dài, hàng năm phải theo sự thỏa thuận với phụ huynh nên phần nào tạo nên sự bất ổn, việc tiếp thu các chuyên đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ còn hạn chế. Trẻ còn nhỏ nên việc cung cấp kiến thức, kỹ năng thực hành trãi nghiệm còn ít. Một số cha mẹ trẻ đi làm ăn xã, gửi con cho ông bà. Vì được ông bà cưng chiều nên thường xuyên cho cháu ăn những thức ăn nhanh, chế biến sẵn không đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Xuất phát từ những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ, nhận thức được tầm quan trọng của việc đảm bảo dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm và xây dựng chế độ ăn đảm bảo hợp lý. Tôi với vai trò một cán bộ quản lý công tác nuôi dưỡng đề ra các biện pháp mang tính tối ưu đem lại hiệu quả trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Biện pháp 1. Khảo sát, xây dựng kế hoạch
- 3 Từ những thuận lợi khó khăn trên để thực hiện tốt cho đề tài sáng kiến của mình tôi tiến hành khảo sát chất lượng đội ngũ giáo viên, nhân viên cấp dưỡng và chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường. Tổng số Kết quả khảo sát giáo viên, Tốt Khá TB Yếu nhân viên Nội dung khảo sát được khảo TS % TS % TS % TS % sát Kiến thức hiểu biết về dinh dưỡng 34 24 76.5 7 20.6 3 0.9 0 0 và vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện tốt các nội dung, yêu 34 cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, 25 72.8 6 18.2 3 0.9 0 0 đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ. Quá trình theo dõi cân đo của trẻ trên biểu đồ tăng trưởng đầu năm học kết quả như sau: Cân nặng Chiều cao Cân nặng bình Suy dinh Chiều cao bình Độ Tổng Thấp còi thường dưỡng thường tuổi số trẻ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ SL Tỷ lệ % % % % Nhà 27 27 100 0 0 26 96.3 01 3.7 trẻ Mẫu 275 267 97.1 8 2.9 270 98.2 05 1.8 giáo Ngay từ đầu năm học với nhiệm vụ được phân công phụ trách công tác nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của nhà trường, với những kiến thức đã học, căn cứ kế hoạch số 175/KH-MNNG ngày 21/10/2022 về kế hoạch nhiệm vụ năm học 2022-2023 và kế hoạch kiểm tra nội bộ số 184/KH-MNNG ngày 25/10/2022 của nhà trường, tôi đã xây dựng kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc năm, tháng, tuần và đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với đặc điểm thực tế của nhà trường, địa phương, trẻ, phụ huynh. + Xây dựng kế hoạch lên thực đơn ăn uống theo khẩu phần, hàng ngày, hàng tuần, theo mùa, hợp lý, cân đối dinh dưỡng, lựa chọn thực phẩm tăng cường sức đề kháng cho trẻ, bổ sung thêm món tráng miệng vào bữa trưa: nước ép cam, quýt, trái cây dưa hấu, Thanh long.. và triển khai tới các bộ phận đoàn thể trong nhà trường và triển khai sâu rộng đến toàn thể các bậc phụ huynh học sinh như: Thông
- 4 qua cuộc họp phụ huynh, góc tuyên truyền, Website, tranh ảnh, hội thi, zalo .( hình 1, 2) + Sau khi rà soát các đồ dùng dụng cụ phục vụ công tác bán trú tôi xây dựng kế hoạch mua sắm, bổ sung cơ sở vật chất. Xây dựng kế hoạch bán trú và thành lập ban quản lý bán trú và phân công cụ thể nhiệm vụ công việc từng cá nhân. + Nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức họp cha mẹ học sinh toàn trường thống nhất mức thu và nội dung chi các khoản dịch vụ, phục vụ hỗ trợ hoạt động giáo dục ngoài học phí để xây dựng thực đơn phù hợp với điều kiện của địa phương, lựa chọn công ty cung cấp thực phẩm Nhựt Tùng để ký kết hợp đồng cung cấp thực phẩm lương thực với các điều kiện: thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý ổn định, có giấy chứng nhận “ vệ sinh an toàn thực phẩm”. Chỉ đạo nhân viên y tế xây dựng kế hoạch tuyên truyền kiểm tra sức khỏe, cân đo theo dõi biểu đồ, chấm kênh của từng lớp và các chỉ số phát triển thể lực của trẻ. (Hình 3) Thực hiện theo Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 6/5/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn khám sức khỏe. Nhà trường kết hợp bệnh viện đa khoa Ninh Hòa khám sức khoẻ định kỳ cho giáo viên, nhân viên trực tiếp làm công tác nuôi dưỡng và ban giám hiệu mỗi năm 1 lần. Chỉ đạo làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ, không để xảy ra dịch bệnh trong nhà trường như: Bệnh chân - tay - miệng, thuỷ đậu, đau mắt, rubella, covid-19... Biện pháp 2: Bồi dưỡng nâng cao kiến thức về dinh dưỡng thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh trong chế biến cho đội ngũ. Với trách nhiệm là phó Hiệu trưởng phụ trách nuôi dưỡng của nhà trường, tôi xác định đây là một biện pháp vô cùng quan trọng, bởi vì nhân viên cấp dưỡng, giáo viên là người trực tiếp chế biến món ăn và cho trẻ ăn. Trẻ có được ăn những món ăn hấp dẫn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc ăn hết xuất hay không là do cấp dưỡng trực tiếp chế biên và giáo viên trực tiếp chăm sóc trẻ. Vì vậy để cho đội ngũ cấp dưỡng, giáo viên thành thạo về kiến thức thực hành dinh dưỡng cho trẻ thì chúng ta phải có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng cho đội ngũ cấp dưỡng và giáo viên phụ trách. Thực hiện nghiêm túc triển khai các văn bản, pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm: Nghị định 155/2018/NĐ-CP; Thông tư 51/2020/TT-BGDĐT ngày 31/12/2020 sửa đổi bổ sung một số điều Chương trình GDMN; Quyết định số 4128/2001/QĐ-BYT về “ Quy định điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế biến suất ăn sẵn”; đến toàn thể giáo viên, nhân viên để nắm rõ, nghiên cứu vận dụng vào công việc. Tôi đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm và nuôi dưỡng chăm sóc trẻ thông qua các buổi họp Hội đồng, buổi sinh hoạt chuyên môn, họp cuối tháng với các nội dung cụ thể: cách lựa chọn thực phẩm tươi sạch cho một bữa ăn cần cân đối có đủ 4 nhóm thực phẩm là nhóm bột đường (chủ
- 5 yếu từ các loại ngũ cốc), nhóm chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu, đỗ...), nhóm chất béo (mỡ động vật, dầu thực vật), nhóm vitamin và khoáng chất (các loại rau, củ, quả...). Vệ sinh nhà bếp, sắp xếp bố trí các đồ dùng, dụng cụ nhà bếp khoa học ngăn nắp, vệ sinh cá nhân của nhân viên cấp dưỡng, giáo viên, trẻ, chế biến thực phẩm. (Hình 4) Ngoài ra tôi còn xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, nhân viên nhằm nâng cao kiến thức cho đội ngũ thực hiện công tác bán trú với mực đích: Nâng cao kiến thức, đặc biệt là kỹ năng thực hành cho giáo viên về giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổ chức tập huấn cho giáo viên và tuyên truyền tới các bậc cha mẹ về kiến thức giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, các bậc phụ huynh cần đảm bảo cho trẻ ăn đủ về số lượng và chất lượng theo từng độ tuổi, đảm bảo bữa ăn có ít nhất 5 trong 8 nhóm thực phẩm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới ( đính kèm kế hoạch). Bên cạnh đó Phòng Giáo dục tổ chức sinh hoạt chuyên môn cụm cho giáo viên và nhân viên cấp dưỡng, giáo viên tổ chức hoạt động, nhân viên cấp dưỡng nấu thực hành nấu món ăn. Cụm chuyên môn của đơn vị tôi thực hành chế biến món nước từ hạt. Kkết quả các món nước từ hạt đến từ các đơn vị trong cụm đều hấp dẫn, đảm bảo dinh dưỡng, hơn thế nữa nhận thấy sự tâm huyết, cũng như việc vận dụng các kiến thức được bồi dưỡng vào thực hành rất tốt, đạt hiệu quả rất cao (hình 5). Ban Giám hiệu nhà trường chỉ đạo chặt chẽ và phối hợp có hiệu quả với các đoàn thể trong và ngoài nhà trường về kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là đội ngũ giáo viên, nhân viên nấu ăn: Đầu năm học tổ chức làm bài tập test kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nhằm kiểm tra, đánh giá và củng cố, bổ sung kiến thức cho đội ngũ nhà trường. Về phía bản thân tôi luôn luôn tự học tập, bồi dưỡng những kiến thức về dinh dưỡng, tham gia các lớp đợt học chuyên đề của Phòng giáo dục tổ chức, các lớp tập huấn của Trung tâm y tế dự phòng thị xã, tìm hiểu qua tài liệu do phòng cung cấp, và mua thêm sách về cách chế biến các món ăn cho trẻ dưới 6 tuổi và rồi vận dụng vào tình hình thực tế của nhà trường. Mở các đợt chuyên đề ở nhà trường để bồi dưỡng cho đội ngũ cô nuôi dưỡng và giáo viên thành thạo hơn kiến thức về thực hành dinh dưỡng. Tôi chỉ đạo tổ cấp dưỡng của nhà trường chế biến những món ăn hấp dẫn đối với trẻ đồng thời phải đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng cung cấp cho trẻ hoạt động. Tôi chỉ đạo giáo viên cần lựa chọn các mục tiêu về giáo dục dinh dưỡng, sức khỏe phù hợp đưa vào từng chủ đề giáo dục. Đặc biệt là lồng ghép chuyên đề về dinh dưỡng sức khỏe vào giờ thể dục, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, chăm sóc góc thiên nhiên để trẻ tiếp xúc với thiên nhiên, thông qua đó nhằm giúp trẻ được trải nghiệm với thực tế trong sinh hoạt cũng qua đó nhằm giúp trẻ có sức khỏe và thể lực tốt để vận động và phát triển tốt về mọi mặt. Tổ chức cho giáo viên dự một số hoạt động có tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng – sức khỏe để rút ra cái được và cái chưa được khi tổ chức, nên lồng ghép thế nào cho phù hợp. Trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa các nội dung giáo dục
- 6 và tích hợp nội dung dinh dưỡng – sức khỏe đã giúp trẻ hiểu biết hơn về tầm quan trọng của dinh dưỡng, sức khỏe, từ đó trẻ sẽ ý thức được phải ăn hết xuất, ăn uống để đảm bảo sức khỏe. (hình 6) Sau khi được bồi dưỡng thì chất lượng đội ngũ được tăng lêm rõ rệt, các cô thành thạo về kiến thức cũng như thực hành chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Biện pháp 3: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện giáo dục vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm trong trường mầm non. Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, các công văn 790/PGDĐT ngày 13/10/2021 hướng dẫn thực hiện công tác tổ chức bán trú trong cơ sở giáo dục mầm non từ năm học 2021-2022 của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Ninh Hoà. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Công tác kiểm tra được tiến hành thường xuyên liên tục, bằng nhiều hình thức khác nhau: Tự kiểm tra đánh giá, kiểm tra có báo trước, kiểm tra không báo trước, kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, kiểm tra giám sát công tác bán trú Tôi thường xuyên kiểm tra hoạt động tổ chức giờ ăn, giấc ngủ trẻ tại lớp, việc thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm, vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp theo từng độ tuổi hoặc vào các giờ hoạt động cả trẻ phù hợp chưa, kiểm tra hàng tuần thao tác rửa tay, lau mặt ở các lớp, giám sát công tác vệ sinh nói chung, vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng thường xuyên theo từng chủ đề cụ thể. (Hình 7) Kiểm tra, dự giờ các buổi chế biến, định lượng khẩu phần ăn của nhân viên cấp dưỡng đã hợp lý cho từng bữa ăn cho trẻ chưa? Làm tốt công tác phân công phân nhiệm, thực hiện có hiệu quả việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ đề ra các chỉ tiêu cần đạt về số lượng, chất lượng, nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ... * Kiểm tra đối với nhà bếp Kiểm tra việc tiếp nhận thực phẩm: Ghi chép sổ sách ký kết giữa người giao và người nhận, cân chất lượng thực phẩm có đủ lượng đảm bảo hay không? Kiểm tra việc ghi sổ: Lưu mẫu thực phẩm, kiểm thực trước khi chế biến, kiểm thực trước khi ăn . Kiểm tra qui trình sơ chế đến chế biến, có đúng qui trình một chiều hay không? Thức ăn chín phải đảm bảo đủ thời gian và nhiệt độ, không để thực phẩm sống tiếp xúc với thực phẩm chín. Kiểm tra dụng cụ chế biến có đảm bảo vệ sinh sạch sẽ hay không? Kiểm tra trang phục cô chế biến có thực hiện nghiêm túc với nội quy không? Kiểm tra việc lưu mẫu thực phẩm, về số lượng, cũng như về nhiệt độ, thời gian lưu, chất lượng bữa ăn, giờ ăn có đảm bảo không? Kiểm tra vệ sinh đồ dùng, dụng cụ chế biến, vệ sinh trong và ngoài nhà bếp, vệ sinh cống rãnh
- 7 * Đối với từng lớp Kiểm tra việc đưa nội dung giáo dục môi trường, nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm, lồng ghép vào các giờ hoạt động chung của trẻ. Kiểm tra vệ sinh cá nhân cô và trẻ (trang phục, đồ dùng của trẻ có ký hiệu riêng của từng trẻ), kiểm tra thao tác rửa tay, rửa mặt, vệ sinh răng miệng đối với trẻ, nề nếp trong mọi hoạt động, tổ chức bữa ăn, giấc ngủ. Kiểm tra vệ sinh môi trường trong và ngoài nhóm lớp theo Thông tư 45/2021- BGDĐT đã đạt yêu cầu của tiêu chí đề ra. * Kiểm tra hợp đồng mua bán thực phẩm: Hợp đồng mua, bán thực phẩm là đầu mối quan trọng trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay. Hợp đồng mua, bán thực phẩm nhằm đảm bảo chất lượng, số lượng, giá cả và đảm bảo an toàn khi sử dụng sản phẩm, hạn chế đến mức thấp nhất việc mất an toàn rủi do khi sử dụng. Có giá trị về mặt pháp lý nếu xảy ra mất an toàn. Hợp đồng cung ứng thực phẩm sạch cần có những biện pháp chặt chẽ từ khâu vận chuyển thực phẩm đến khâu giao nhận thực phẩm tại bếp ăn của trường. Thực phẩm phải tươi ngon, sạch sẽ không bị dập nát, khô héo hoặc bị ôi thiu. Ngoài việc ký hợp đồng với các cơ sở vào đầu năm học nhà trường phát động phong trào làm rau sạch. Ban giám hiệu đã giao cho đoàn thanh niên và nhân viên nhà bếp chịu trách nhiệm trong việc trồng rau sạch trên vườn trường với các loại rau theo mùa từ đó phần nào cải thiện trong bữa ăn hàng ngày của trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. (Hình 9) * Kiểm tra công tác giao và nhận thực phẩm: Ngoài việc ký hợp đồng thực phẩm, nhà trường đã thành lập tổ kiểm tra giám sát: Hiệu phó bán trú, ban thanh tra nhân dân, chủ tịch công đoàn, y tế, đại diện phụ huynh và phân công lịch kiểm tra thực phẩm hàng ngày ở nhà bếp. Nhân viên nhà bếp khi giao nhận thực phẩm phải có sổ ghi chép thời gian nhận thực phẩm về định lượng và tình trạng thực phẩm và có ký sổ để theo dõi chất lượng cũng như số lượng thực phẩm giữa công ty và nhà trường tránh sự nhầm lẫn. (Hình 8) Đối với thực phẩm sống chỉ nhận thực phẩm còn tươi mới, tình trạng cảm quan tốt, không bị dập nát và không bị mùi lạ. Những thực phẩm bị dập nát có dấu hiệu không tươi, nghi ngờ hỏng, không đảm bảo chất lượng, không đúng với hợp đồng thì không được tiếp nhận. Các phẩm màu phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc, không nằm trong danh mục cho phép của của Bộ Y tế thì không được dùng trong trường mầm non. Thực phẩm khi nhận phải được kiểm tra sau đó mới được đưa vào sơ chế, khi chế biến phải tuân thủ theo 10 nguyên tắc vàng và 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý. Tôi luôn nghiêm khắc trong việc chỉ đạo nhân viên y tế thực hiện 3 bước kiểm thực thực phẩm ( kiểm tra nguyên liệu khi mới nhập: Tươi, ngon, đủ số lượng và không có dấu hiệu lạ; kiểm tra trước khi nẫu: Sơ chế có đạt yêu cầu vệ sinh không,
- 8 sơ chế có đúng cách chưa? kiểm thực trước khi ăn: màu sắc, mùi vị của thức ăn đã đạt chưa, bảo quản có đảm bảo không?...) * Kiểm soát quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm: Quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm có ảnh hưởng không nhỏ đến dinh dưỡng món ăn và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, nếu kiểm soát tốt quá trình này sẽ giữ được chất lượng dinh dưỡng trong thực phẩm và giúp trẻ có bữa ăn an toàn và đủ chất, ngược lại nếu quá trình chế biến, bảo quản không tốt sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn. Ví dụ: Thực phẩm được chế biến không đúng cách hoặc không đúng thời gian có thể làm thức ăn bị biến chất, mất chất, thậm chí gây ngộ độc thực phẩm Chính vì thế bản thân tôi luôn thực hiện kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc chế biến của nhân viên nhà bếp, phải đảm bảo theo nguyên tắc một chiều, lưu và hủy mẫu thức ăn đúng 24h. Trước khi chế biến thực phẩm sống nhân viên cấp dưỡng phải rửa dụng cụ sạch sẽ, tránh để nhiểm khuẩn, thức ăn chín phải đảm bảo thời gian và nhiệt độ, không để thực phẩm sống gần thức ăn đã nấu chín, bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh nhiệt đô 2-8 độ C. Thường xuyên giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi chế biến thức ăn đảm bảo một nguyên tắc “ Làm đến đâu, sạch đến đó” Nhân viên nhà bếp phải rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến, nấu nướng, đầu tóc gòn gàng, không nói to, không khạc nhỏ, phải mặc tạp dề, khẩu trang và găng tay. Kiểm tra cách bảo quản thực phẩm kho: Những thực phẩm để trong kho phải được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp, có các sàn kê và đựng vào bao túi hợp vệ sinh, xô đựng gạo có nắp đậy chắc chắn, không để các loại hóa chất hay các hàng không phải thực phẩm vào kho chứa thực phẩm. Bảo quản thực phẩm sau khi đã nấu chín: Đây là khâu bảo quản quan trọng nhất, do đó từ bàn ăn đến dụng cụ đựng thức ăn đều phái thật sạch sẽ, có nắp đậy để tránh ruồi muỗi, bụi bặm, thức ăn sau khi nấu chín được đem đến khu vực chia ăn, nhân viên nhà bếp thực hiện chia khẩu phần ăn cho trẻ theo đúng định lượng từng lớp. Thức ăn khi nấu xong đến khi cho trẻ ăn phải còn ấm, có nắp đậy. Biện pháp 4: Chỉ đạo thực hiện đảm bảo vệ sinh môi trường a. Nguồn nước: Nước là một loại nguyên liệu không thể thiếu được và nó đư ợc sử dụng nhiều công đoạn chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày đối với trẻ. Nước sử dụng cho chế biến thực phẩm phải sạch và không chứa các chất ô nhiễm khác, bảo đảm tiêu chuẩn về sinh an toàn nước uống và sinh hoạt theo quy định Bộ Y tế và nước cũng phải được kiểm tra chất lượng về vệ sinh thường xuyên 6 tháng/1 lần. Vì vậy trước khi đi vào hoạt động nhà trường đã đi xét nghiệm nguồn nước tại trung tâm kiểm nghiệm thuộc sở Y tế Khánh Hòa, nếu kết quả đảm bảo đủ tiêu chuẩn mới đưa vào sử dụng. Ngoài ra trong quá trình sử dụng nếu có biểu hiện khác thường thì nhân viên nhà bếp báo ngay cho nhà trường và nhà trường
- 9 báo ngay với cơ quan y tế để điều tra và xử lý kịp thời nếu nước nhiễm bẩn sẽ gây ra ngộ độc thức ăn trong ăn uống, và các chứng bệnh ngoài da của trẻ. Để đảm bảo trẻ được uống nước có chất lượng nhà trường ký hợp đồng với công ty cung cấp nước Hải Đường có giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm: đảm bảo nguôn nước sạch, nước được đóng bình có bao bì, nhãn mác rõ ràng, nơi sản xuất, hạn sử dụng. b. Xử lý chất thải: Đối với trường bán trú có rất nhiều loại chất thải khác nhau như: Nước thải, khí thải, rác thải, rác thải từ rau củ, rác từ thiên nhiên lá cây, các loại nilông, giấy lộn, đồ sinh hoạt thừa, vỏ hộp sữa Nếu không có biện pháp xử lý tốt sẽ làm ô nhiễm môi trường. Tôi chỉ đạo giáo viên, nhân viên các chất thải ra phải cho vào thùng rác và có nắp đậy, tập trung xa nơi chế biến, phòng ăn của trẻ. Rác thải đã được nhà trường ký kết hợp đồng với phòng vệ sinh môi trường thu gom và xử lý hàng ngày, vì vậy khuôn viên trường lớp không có rát thải tồn đọng và mùi hôi thối. Trường có cống thoát nước ngầm để không có mùi hôi. Khu vệ sinh đại tiểu tiện luôn được nhân viên vệ sinh thường xuyên cọ rửa sạch sẽ, nhà vệ sinh lớp luôn khô ráo, sạch sẽ, bồn rửa tay đưuọc trang bị xà phòng cho trẻ rửa tay. c. Đảm bảo công tác vệ sinh, nơi chế biến, khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp, nhân viên cấp dưỡng nhân, giáo viên tại lớp và vệ sinh cá nhân cho trẻ: Căn cứ Quyết định số 4128/2001/QĐ-BYT về “ Quy định điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các nhà ăn, bếp ăn tập thể và cơ sở kinh doanh chế biến suất ăn sẵn”. Tôi luôn giám sát chặt chẽ nơi chế biến thực phẩm phải luôn thường xuyên giữ vệ sinh sạch sẽ, có dụng cụ riêng cho thực phẩm sống và chín. Thực hiện nguyên tắc bếp một chiều nhằm tránh không để thực phẩm sống, chưa làm sạch và thức ăn chín, sạch chung một lối đi. Sắp xếp vị trí các khu vực sao cho thuận tiện, gọn gàng để tránh lúc nấu phải đứng lên. Các khu vực hoạt động của bếp phải có biển đề rõ ràng: Nơi tiếp nhận thực phẩm, khu sơ chế thực phẩm, khu tinh chế, khu nấu chín, khu chế biến thực phẩm chín, khu chia ăn. Nhà bếp luôn luôn hợp vệ sinh, đảm bảo bếp không bị bụi, có đủ dụng cụ cho nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho học sinh, có đủ nguồn nước sạch cho trẻ phục vụ ăn uống. Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm, tháp dinh dưỡng về nhu cầu thực phẩm của các chất cho mọi người cùng đọc và thực hiện. Phân công cụ thể ở các khâu: chế biến theo thực đơn, theo số lượng đã quy định của nhà trường, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh. Chỉ đạo nhân viên dinh dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh nhà bếp theo lịch hàng ngày, tuần và tháng. Nơi để thức ăn phải thoáng có lưới để ngăn không cho ruồi, nhặng, muỗi, chuột đậu hoặc ăn vào. Bát thìa hàng ngày phải được để nơi khô ráo và được hấp trong tủ vào cuối mỗi buổi chiều tránh không úp trực tiếp xuống bàn hoặc xuống tủ. Bát thìa của trẻ dùng bằng inox, không dùng loại nhựa tái sinh. (Hình 10)
- 10 Có đầy đủ dụng cụ chế biến thức ăn sống, chín riêng, dụng cụ dùng xong phải được rửa sạch phơi khô, trước khi dùng phải rửa lại. Thức ăn nấu chín được chia vào các dụng cụ bằng inox, không dùng loại nhựa tái sinh, có nắp đậy hoặc phải có lòng bàn tránh ruồi nhặng bâu vào nhiễm bẩn, tuyệt đối không dùng vải để che đậy, phủ trực tiếp lên thức ăn. Chậu rửa, giá kệ úp dụng cụ: rổ rá, thớt, soong nồi phải được kê cao ráo, thông thoáng và thoát nước. Bàn chế biến và chia thức ăn được làm bằng inox và đá sạch để không thấm nước và dễ cọ rửa. Chỉ đạo nhân viên cấp dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến ăn cho trẻ như: mặc quần áo đồng phục ở trường, mang tạp dề, đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ. Rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh, qua mỗi công đoạn chế biến. Có khăn lau tay riêng và được giặt phơi khô hàng ngày. Nhân viên nhà bếp được bố trí phòng nhân viên để nơi thay quần áo và vệ sinh riêng, không dùng chung với khu chế biến thức ăn cho trẻ Phải tuân thủ đúng quy trình sử dụng dụng cụ chế biến thức ăn theo một chiều, không tuỳ tiện sử dụng đồ dùng, dụng cụ đựng, chế biến thực phẩm sống, chín lẫn lộn. Không được ho, khạc nhổ khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi nếm thức ăn còn thừa phải đổ đi. Khi chia ăn cho trẻ phải đeo khẩu trang và chia bằng dụng cụ, không dùng tay bốc, chia thức ăn. Thực hiện nghiêm túc việc cân, đong chia thức ăn cho trẻ đảm bảo định lượng. Chỉ đạo các giáo viên rửa tay bằng xà phòng trước khi chia ăn và cho trẻ ăn, sau khi đi vệ sinh. Đầu tóc, quần áo gọn gàng, đeo khẩu trang khi chia thức ăn và cho trẻ ăn, có dụng cụ chia thức ăn riêng, không dùng tay bốc. Chuẩn bị đủ bàn ghế, khăn ướt lau tay, đĩa đựng thức ăn rơi vãi cho trẻ. Tăng cường kiểm tra các nhóm lớp thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt trong ngày phù hợp với từng độ tuổi, chú trọng công tác giáo dục vệ sinh dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm. Ví dụ: Trẻ phải được rửa tay trước khi ăn bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, rửa xong lau khô. Dạy trẻ biết rửa tay sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn, nhắc nhở cha mẹ trẻ hàng tuần cắt móng tay, móng chân cho trẻ. + Dạy trẻ có thói quen biết giữ vệ sinh ăn uống: Ăn chín, uống sôi, ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống từ tốn, tránh rơi vãi, khi thức ăn rơi vãi nhặt bỏ vào nơi quy định. Trẻ ăn xong biết đánh răng, súc miệng sạch sẽ, uống nước. Biện pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối hợp cha mẹ trẻ trong công tác đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm Chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên, nhân viên thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền với các ban ngành và phụ huynh về công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ, phổ biến kiến thức dinh dưỡng – sức khỏe, nuôi dạy con theo khoa học. Phổ biến thực phẩm giàu chất đạm, chất béo, chất bột đường, chất vitamin muối khoáng có sẵn tại địa phương đảm bảo rẻ tiền nhưng giàu chất dinh dưỡng
- 11 và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Phổ biến cách bảo quản thực phẩm sống, thực phẩm chín một cách an toàn, tránh thực phẩm bị ôi thiu, nhiễm độc. Tuyên truyền đến các bậc phụ huynh biết tầm quan trọng của việc cho trẻ ăn hết suất ăn, động viên, chăm sóc bữa ăn cho trẻ giúp trẻ ăn ngon miệng hơn.thông qua những hình thức như: Tuyên truyền qua loa truyền thanh địa phương các buổi họp phụ huynh, qua góc tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ của lớp và nhà trường. Phối hợp với các ban ngành và phụ huynh để triển khai các công văn của Trung ương, địa phương về dịch bệnh theo mùa, tuyên truyền tháng vệ sinh an toàn thực phẩm, tuyên truyền cho phụ huynh nhận thức, thực hiện 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. (Hình 7) Tổ chức cho phụ huynh tham quan bếp ăn, tham quan giờ ăn của trẻ để phụ huynh nhận thức thấy rõ việc ăn uống là một nhu cầu cấp bách hàng ngày của trẻ. Ăn uống theo đúng yêu cầu dinh dưỡng thì thể lực, trí tuệ phát triển tốt. Chỉ đạo các lớp xây dựng góc tuyên truyền về các nội dung: Cách phòng bệnh cho trẻ theo mùa; Kết quả khám sức khỏe, cân đo của trẻ; Tháp dinh dưỡng cân đối các chất; “10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm”, “10 lời khuyên về dinh dưỡng hợp lý”. In ấn và treo các hình ảnh, tranh minh họa về các hoạt động giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ, những kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ để giúp phụ huynh biết rõ hơn. Đặc biệt là tranh về 4 nhóm thực phẩm chính cụ thể là: + Nhóm thực phẩm giàu chất bột đường: gạo, mì, ngô, khoai... + Nhóm thực phẩm giàu chất đạm: (đạm động vật): thịt, cá, trứng, tôm... Đạm thực vật: đậu phụ, đậu tương.... + Nhóm thực phẩm giàu chất béo: vừng, lạc + Nhóm thực phẩm cung cấp vitamin và muối khoáng: rau xanh, hoa quả. + Hàng quý cân, đo trẻ và báo cho phụ huynh rõ về tình trạng sức khỏe của trẻ Tăng cường tuyên truyền trên các kênh zalo nhóm lớp, website trường, các hoạt động giao lưu, lễ hội: Tổ chức tiệc Buffet, bé tập làm nội trợ, các chuyên đề dinh dưỡng sức khỏe, hội thi Bé khỏe-bé ngoan, hiệu quả cách sử dụng phần mềm Nutrikid trong tính định lượng khẩu phần ăn cho trẻ để phụ huynh thấy rõ lợi ích việc đảm bảo dinh dưỡng và an toàn thực phẩm tại trường. (Hình 11) Vận động phụ huynh ủng hộ các thùng xốp cũ, hạt giống, phân bón... để cùng nhà trường xây dựng và làm phong phú thêm vườn rau của trường vừa bổ sung thêm thực phẩm sạch cho trường vừa tạo cơ hội trẻ trãi nghiệm được tăng cường vốn kiến thức.(hình 12) Biện pháp 6: Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm Qua một năm chỉ đạo công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non năm học vừa qua. Với sự kết hợp đồng bộ các biện pháp trên đã đem lại những
- 12 thành công và kết quả cao trong công tác đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ăn bán trú tại trường mầm non: Đội ngũ giáo viên, nhân viên có ý thức trách nhiệm cao trong việc giữ vệ sinh chung, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm. Đặc biệt, chú trọng công tác chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non. Nhân viên nuôi dưỡng thực hiện nghiêm túc công tác tiếp phẩm, quy trình chế biến, chia ăn, vệ sinh, lưu mẫu thức ăn hàng ngày. Chất lượng bữa ăn tại trường cho trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thay đổi thực đơn theo mùa đảm bảo đủ lượng và chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Qua các giờ học và các hoạt động lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng, các cháu đã nhận biết lợi ích của các loại thức ăn, biết ăn uống đúng cách, hợp vệ sinh, có hành vi văn minh trong ăn uống, nhận biết 4 nhóm thực phẩm cơ bản. Trẻ biết được một số lao động để giữ vệ sinh nơi công cộng, vệ sinh môi trường như: không vứt rác, khạc nhổ nơi công cộng, biết bỏ rác đúng nơi quy định, vệ sinh lớp học hàng ngày biết được công tác giữ vệ sinh rất quan trọng đối với sức khoẻ con người. Sau khi áp dụng sáng kiến kết quả khảo sát cuối năm: Đối với giáo viên, nhân viên Tổng số giáo Kết quả khảo sát viên, nhân Tốt Khá TB Yếu viên Nội dung khảo sát được khảo T % TS % TS % TS % sát Kiến thức hiểu biết rõ về vệ sinh an toàn thực 34 30 88.3% 3 8.8% 1 2.9% 0 0 phẩm, dinh dưỡng cho trẻ. Thực hiện tốt các nội 34 dung, yêu cầu về vệ sinh 29 85.3% 4 11.8% 1 2.9% 0 0 an toàn thực phẩm. Quá trình theo dõi cân đo của trẻ trên biểu đồ tăng trưởng cuối năm học kết quả như sau: Cân nặng Chiều cao Cân nặng Suy dinh Chiều cao Tổng Thấp còi Độ tuổi bình thường dưỡng bình thường số trẻ Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ SL SL SL SL % % % % Nhà trẻ 27 27 100 0 0 27 100 0 0
- 13 Mẫu giáo 275 275 100 0 0 275 100 0 0 Qua kết quả thể hiện trên bảng khảo sát cuối năm tôi nhận thấy kết quả Tỉ lệ suy dinh dưỡng cuối năm về cân nặng còn 0 %, về chiều cao giảm còn 0 %. Kiến thức hiểu biết cũng như thực hiện tốt các nội dung đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm của cán bộ, giáo viên,nhân viên có sự thay đổi rõ rệt. Qua đó tôi rút ra một số kinh nghiệm cho năm học sau: Tăng cường tổ chức nhiều lớp tập huấn về đảm baỏ dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm với những chuyên đề đi sâu, tăng cường thực hành cho cán bộ, giáo viên, nhân viên; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đồng bộ các nội dung trong công tác kiểm tra bán trú. Tổ chức nhiều cuộc thi về chuyên đề dinh dưỡng cho trẻ và giáo viên. - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Sự quan tâm Phòng giáo dục đào tạo Thị xã Ninh Hòa, BGH nhà trường về tư liệu, văn bản chỉ đạo, chuyên môn, cở vật chất đầy đủ trang thiết bị. Đảm bảo sỉ số trẻ trong lớp, trẻ đến lớp đều tham gia đều các hoạt động. Giáo viên đạt trên chuẩn trình độ, yêu nghề, mến trẻ nhiệt tình trong các phong trào của nhà trường, khả năng tuyên truyền thu hút sự ủng hộ phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục. Sự phối hợp, đồng lòng của phụ huynh trong công tác đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm và công tác chăm sóc giáo dục trẻ tại trường. - Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Lợi ích kinh tế: giáo viên, nhân viên nắm nâng cao kiến thức đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ giải pháp ít tốn kém mang lại hiệu quả cao. * Lợi ích về xã hội: 100% cán bộ, giáo viên nhân viên được cung cấp kiến thức về đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tại trường. 100% giáo viên, nhân viên cấp dưỡng luôn giữ vệ sinh cá nhân sạch, rửa tay đúng qui trình. Môi trường trong và ngoài lớp luôn sạch sẽ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ. Nhân viên y tế thực hiện 3 bước kiểm thực đúng qui định, thiết lập dưỡng chất đúng dinh dưỡng, chế biến và tiếp tiếp phấm đúng nguyên tắc bếp 1 chiều cho nên không có trường hợp nào bị ngộ độc thực phẩm xảy ra ở trường; dịch bệnh cũng không lây lan. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi giảm đáng kể. Cháu phát triển tốt, cân đối hài hoà. Đánh giá trẻ cuối độ tuổi học kỳ 1 đạt 98.7%, trong đó trẻ 4 tuổi, 5 tuổi đạt 100%, trẻ nhà trẻ cuối giai đoạn đạt 96.3%, trẻ 3 tuổi đạt 98.3%. Cháu phát triển tốt trên 5 lĩnh vực, biết được tên 4 nhóm thực phẩm thông thường; có một số kỹ năng tự phục vụ trong ăn uống, ngủ, vệ sinh...
- 14 100% trẻ được ăn ngủ đảm bảo vệ sinh dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm giúp trẻ tham gia các hoạt động hiệu quả, phát huy tính tích cực, mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng cơ thể trẻ phát triển cân đối, hài hòa, nhanh nhẹn, tạo tiền đề cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. 100% trẻ được tiêm chủng đúng lịch, khám sức khỏe theo định kỳ 1 lần/năm, được cân đo theo dõi biểu đồ phát triển 3 tháng/lần. 100% các lớp xây dựng góc tuyên truyền phong phú, đa dạng về đảm bảo dinh dưỡng, kết quả cân đo, khám sức khoẻ, có hình ảnh minh hoạ cho phụ huynh theo dõi, quan sát. 100% Phụ huynh học sinh tạo được mối liên hệ chặt chẽ giữa nhà trường và phụ huynh trong công tác nuôi dưỡng chăm sóc trẻ. * Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử: - Cán bộ quản lý nắm rõ hơn các quản lý thực hiện tốt công tác bán trú, nâng cao hiệu quả công tác nuôi dưỡng. - 100% Giáo viên, nhân viên nắm nâng cao kiến thức đảm bảo dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ giải pháp ít tốn kém mang lại hiệu quả cao. - 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường được phổ biến cac thông tư, văn bản trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ tại trường. Cán bộ y tế làm công tác y tế trường học nắm vững kiến thức và nội dung thực hiện kiểm tra giám sát đúng quy định. 100% trẻ được cân đo theo dõi chấm biểu đồ, khám sức khỏe theo định kỳ 2 lần/năm, được cân đo theo dõi biểu đồ phát triển 4 lần/năm, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng đến cuối năm giảm 0.3% so với đầu năm, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm 1.4% so với đầu năm. 100% Cháu phát triển tốt cân đôi hài hòa về thể chất và tinh thần. 100% trẻ được ăn ngủ đảm bảo vệ sinh dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm giúp trẻ tham gia các hoạt động hiệu quả, phát huy tính tích cực, mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng cơ thể trẻ phát triển cân đối, hài hòa, nhanh nhẹn, tạo tiền đề cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. Đảm bảo tốt công tác vệ sinh, nơi chế biến, khu vực bếp, đồ dùng dụng cụ nhà bếp..., 100% giáo viên, nhân viên cấp dưỡng luôn giữ vệ sinh cá nhân sạch, rửa tay đúng qui trình. Môi trường trong và ngoài lớp luôn sạch sẽ, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ. Nhân viên y tế thực hiện 3 bước kiểm thực đúng qui định, thiết lập dưỡng chất đúng dinh dưỡng, chế biến và tiếp tiếp phấm đúng nguyên tắc bếp 1 chiều cho nên không có trường hợp nào bị ngộ độc thực phẩm xảy ra ở trường; dịch bệnh cũng không lây lan. 100% lớp học tổ chức học tốt, dạy tốt các chương trình chính khóa về giáo dục sức khỏe cho trẻ, quản lý trẻ tốt trong các hoạt động.
- 15 100% các lớp xây dựng góc tuyên truyền về các nội dung: Cách phòng bệnh cho trẻ theo mùa; Kết quả khám sức khỏe, cân đo của trẻ; Tháp dinh dưỡng cân đối các chất; “10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm”, “10 lời khuyên về dinh dưỡng hợp lý”. treo các hình ảnh, tranh minh họa về giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ, những kiến thức về dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ để giúp phụ huynh biết rõ hơn. 100% Giáo viên thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nhờ vậy mọi thông tin được chuyển tải kịp thời đến các bậc cha mẹ học sinh, tạo uy tín tiềm năng đối với phụ huynh và với trẻ, được phụ huynh tín nhiệm. * Các tài liệu, hình ảnh, video minh chứng các kết quả đạt được: Hình ảnh minh chứng. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật./. Ninh Giang, ngày 10 tháng 02 năm 2023 NGƯỜI NỘP ĐƠN Võ Thị Tuyết Trinh

