SKKN Một số biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường Mầm non - Nguyễn Tấn Nhật Phương

docx 16 trang bichdiep 28/07/2025 550
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường Mầm non - Nguyễn Tấn Nhật Phương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_phong_chong_thua_can_beo_phi_cho_tre_t.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường Mầm non - Nguyễn Tấn Nhật Phương

  1. Một số biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường mầm non SÁNG KIẾN - Họ và tên: NGUYỄN TẤN NHẬT PHƯƠNG Giới tính: Nữ - Ngày, tháng, năm sinh: 17/09/1983 - Cơ quan, đơn vị công tác: Trường Mầm non Ninh Hưng - Chức vụ/ chức danh: Phó Hiệu trưởng - Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm mầm non 1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường mầm non. 2. Lĩnh vực áp dụng 2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý giáo dục mầm non 2.2. Mục tiêu: Đề ra các biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ tại Trường Mầm non Ninh Hưng và các trường Mầm non trên địa bàn thị xã Ninh Hòa. 2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường mầm non - Phạm vi nghiên cứu: Trường Mầm non Ninh Hưng 3. Cơ sở pháp lý - Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục mầm non. - Quyết định số 2892/QĐ-BYT ngày 22 tháng 10 năm 2022 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh béo phì” .4. Thực trạng
  2. Phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong nhà trường là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Bởi vì thừa cân, béo phì ở trẻ gây nhiều hậu quả xấu tới sức khỏe như đái tháo đường type 2, rối loạn chuyển hóa lipid máu và tăng huyết áp. Khi trưởng thành những trẻ này có nguy cơ cao mắc bệnh béo phì, các bệnh mạn tính không lây và hội chứng chuyển hóa. Vì vậy việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường mầm non sẽ giúp cho trẻ phát triển tốt về thể chất và tinh thần góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non. Tuy nhiên, thực trạng chung của việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ cho trẻ trong trường mầm non hiện nay có những ưu điểm, khuyết điểm như sau: * Ưu điểm - Nhà trường được sự quan tâm của các cấp chính quyền và sự chỉ đạo sâu sát của Phòng Giáo dục và Đào tạo Ninh Hòa trong việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ; - Đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, tâm huyết với nghề; - Cơ sở vật chất nhà trường tương đối đầy đủ: có bếp ăn, đồ dùng, dụng cụ, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thể lực cho trẻ. * Khuyết điểm - Giáo viên đa số chỉ được bồi dưỡng về chuyên môn ít được tham gia các lớp bồi dưỡng về cách phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ nên ít nắm được các nội dung để hướng dẫn chế độ ăn cho trẻ phù hợp nhất là đối với những trẻ bị thừa cân, béo phì. - Công tác tổ chức tốt bữa ăn học đường trong nhà trường ít được giáo viên, nhân viên quan tâm cho rằng nhiệm vụ đó là của nhà trường nên ít chú ý chỉ thực hiện cho xong qua ngày vì vậy dẫn đến tình trạng trẻ bị thừa cân, béo phì chiếm tỷ lệ cao. - Đa số giáo viên ít chú ý tăng cường tổ chức các hoạt động thể lực cho trẻ chỉ chú ý tổ chức trong giờ hoạt động học, ít chú ý tổ chức cho trẻ mọi lúc, mọi nơi trong các hoạt
  3. động khác nhau nên viêc vận động của trẻ còn hạn chế dẫn đến trẻ ít tiêu hao năng lượng do thức ăn cung cấp. - Công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của phụ huynh về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong nhà trường có thực hiện nhưng hình thức ít phong phú, nội dung tuyên truyền ít cụ thể, rõ ràng; thông tin tuyên truyền đôi khi chưa thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời. 5. Mô tả sáng kiến: 5.1. Về nội dung của sáng kiến: Xuất phát từ những vấn đề còn tồn tại trong thực tế, căn cứ vào lý luận về việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ, bản thân đề xuất các giải pháp thực hiện công tác chỉ đạo, bồi dưỡng cho giáo viên, nhân viên trong việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ tại trường mầm non như sau: Giải pháp 1: Hướng dẫn chế độ ăn hợp lý cho trẻ. Việc hướng dẫn chế độ ăn hợp lý cho trẻ là việc làm hết sức cần thiết và rất quan trọng nhằm giúp trẻ có thói quen ăn uống lành mạnh từ nhỏ, giúp trẻ phát triển tốt cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần từ đó nhằm làm hạn chế tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì xảy ra trong nhà trường. Tôi nhận thức được tầm quan trọng của việc hướng dẫn chế độ ăn hợp lý cho trẻ nên tôi đã hướng dẫn cho giáo viên về chế độ ăn hợp lý cho trẻ như sau: Việc hướng dẫn cho giáo viên về chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý cho trẻ là phải phối hợp nhiều loại thực phẩm trong một ngày cho trẻ ăn. Tôi chỉ đạo cho giáo viên tập cho trẻ ăn rau, củ, quả và ăn đa dạng nhiều loại thực phẩm khác nhau. Ví dụ: Ở nhà phụ huynh thường cho trẻ ăn các loại thực phẩm như: thịt, tôm, trứng..ít tập cho trẻ ăn các loại rau, củ, quả nên đến trường trẻ thường không ăn. Ngày nào nhà trường xây dựng thực đơn có các loại rau, củ, quả luộc hoặc các món xào rau, củ tôi thường đi kiểm tra các lớp thấy có một số trẻ ít thích ăn nhất là những trẻ thừa cân, béo phì. Đối với những trẻ này tôi hướng dẫn giáo viên nên tập cho trẻ ăn dần, lúc đầu trẻ không ăn được thì giáo viên chia ít cho trẻ ăn để tập cho trẻ ăn từ từ, khi trẻ ăn được rồi thì giáo viên cho
  4. trẻ ăn nhiều hơn, ăn đúng khẩu phần ăn, cứ như thế giáo viên tập dần thì trẻ đã ăn được hơn và thích ăn hơn. Tôi chỉ đạo giáo viên cho trẻ ăn theo nhu cầu của từng lứa tuổi chứ không phải độ tuổi nào cũng cho trẻ ăn như nhau. Khi tổ chức giờ ăn cho trẻ ăn tôi hướng dẫn giáo viên cho trẻ nhai kỹ và cho trẻ ăn chậm, giúp trẻ cảm nhận được no và sẽ ngừng ăn khi no. Nếu trẻ ăn quá nhanh thì sẽ ăn nhiều hơn nhu cầu cần thiết. Ngoài ra tôi còn chỉ đạo giáo viên thường xuyên giáo dục trẻ nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả ít ngọt. Không nên ăn, uống sữa vào buổi tối muộn trước giờ đi ngủ. Không nên ăn các loại thức ăn có nhiều chất béo như: gà chiên, khoai tây chiên, xúc xích, thức ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn...và các thức ăn có nhiều đường như: bánh ngọt, kẹo ngọt, nước ngọt và nước ngọt có ga vì các thức ăn này thường có năng lượng cao nhưng lại nghèo vitamin và chất khoáng. Không những thế tôi còn chỉ đạo giáo viên tuyên truyền về chế độ ăn hợp lý cho trẻ với phụ huynh như: cho trẻ ăn đều đặn các bữa, tránh bỏ bữa, không để trẻ quá đói vì nếu trẻ bị đói trẻ sẽ ăn nhiều hơn vào các bữa sau làm mỡ tích lũy nhanh hơn. Tuyên truyền với phụ huynh nên cho trẻ ăn nhiều vào buổi sáng, giảm ăn vào buổi chiều và tối, phụ huynh nên cho trẻ uống sữa không đường hoặc ít đường, nên cho trẻ uống các loại sữa ít béo, giàu canxi. Không cho trẻ ăn quá nhiều, lượng thực phẩm mỗi bữa ăn phải phù hợp với tuổi Tóm lại, việc hướng dẫn chế độ ăn hợp lý cho trẻ đã giúp cho giáo viên nắm được các nội dung để hướng dẫn chế độ ăn cho trẻ từ đó giúp cho trẻ thừa cân, béo phì cũng như những trẻ có nguy cơ thừa cân, béo phì sẽ giảm được lượng mỡ thừa mà vẫn đảm bảo dưỡng chất cho sự phát triển thể lực cho trẻ. Giúp cho nhà trường không những hạn chế được tỉ lệ thừa cân, béo phì mà còn giúp cho những trẻ bình thường luôn giữ được sức khỏe ổn định. Giải pháp 2: Tổ chức tốt bữa ăn học đường trong nhà trường. Bữa ăn học đường có vai trò cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng cho trẻ đáp ứng nhu cầu hoạt động học tập và vận động, phát triển thể lực và trí lực theo lứa tuổi. Hình thành thói quen ăn uống khoa học, có lợi cho sức khỏe. Đây là một trong những
  5. nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ tại trường nhằm đảm bảo các vấn đề về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ. Bản thân tôi phụ trách bộ phận nuôi dưỡng, chăm sóc ngay từ đầu năm học tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng tổ chức tốt bữa ăn học đường cho trẻ. Muốn tổ chức tốt bữa ăn học đường trong nhà trường trước hết tôi phải chú ý xây dựng thực đơn bữa ăn khoa học, cân đối, hợp lý. Trước hết tôi bồi dưỡng nhân viên nấu ăn về cách xây dựng thực đơn như sau: Ngay từ đầu năm học trong buổi sinh hoạt chuyên môn của nhà trường, tôi đã hướng dẫn nhân viên nấu ăn cách xây dựng thực đơn hằng ngày, theo tuần, theo mùa. Các món ăn của thực đơn không được lặp lại trong 2 tuần để trẻ không nhàm chán và cần thay đổi sự kết hợp giữa các loại thực phẩm đề tạo ra các món ăn khác nhau. Thực đơn bữa ăn học đường luôn bảo đảm đa dạng các loại thực phẩm, gồm có món mặn, món canh, món xào, món tráng miệng. Thực đơn phải đạt đạt tối thiểu trên 10 loại thực phẩm khác nhau, có ít nhất 5 trong 8 nhóm thực phẩm theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới. Thực đơn khi xây dựng luôn có sữa tươi và các chế phẩm từ sữa bảo đảm theo quy định, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Để thực đơn phong phú, hấp dẫn thì trong buổi sinh hoạt chuyên môn tổ nấu ăn tôi cho nhân viên nấu ăn xem một số thực đơn của các trường bạn xây dựng sau khi tham gia học lớp xây dựng thực đơn do Phòng Giáo dục tổ chức; ngoài ra tôi còn tìm kiếm, tham khảo các món ăn mới lạ trên mạng để đến khi sinh hoạt tổ tôi cho nhân viên nấu ăn xem video về cách chế biến một số món ăn, thức uống mới như: canh rau cải nấu ngao, bún riêu cua, cháo mực nấm rơm, canh rong biển thịt gà, sữa dừa hạnh nhân...để các chị em nấu ăn cùng nhau tham khảo và học tập để từ đó có thể vận dụng vào việc xây dựng thực đơn cho trường sao cho phù hợp với điều kiện và phù hợp với từng độ tuổi trẻ khác nhau. Sau khi các nhân viên nấu ăn được tôi bồi dưỡng về cách xây dựng thực đơn thì hàng tuần cứ đến thứ tư các nhân viên nấu ăn xây dựng thực đơn cho tuần sau rồi đưa tôi duyệt, khi tôi duyệt xong tôi gửi lên nhóm Zalo trường để cho tất cả các cán bộ, giáo viên, nhân viên góp ý, sau khi góp ý xong thì 1 nhân viên nấu ăn chỉnh sửa lại thực đơn rồi tôi mới ban hành ký duyệt và đưa vào thực hiện. Kết quả: Thực đơn được các chị em nấu ăn xây dựng luôn sáng tạo nhiều món ăn mới lạ và đa dạng các loại thực phẩm.
  6. Sau đây là 1 ví dụ về xây dựng thực đơn 1 tuần bữa ăn học đường trong nhà trường. Ăn xế (14h) Ăn chiều Thứ/ngày Ăn trưa (15) Mẫu giáo Nhà trẻ Nhà trẻ - Cơm Cháo tôm khoai Bánh Pudding Cháo tôm, Thứ hai - Món mặn: Thịt heo kho lang + Bánh bắp cà rốt, Pudding bắp khoai lang trứng cút - Món canh: Bí đỏ nấu thịt bò - Món xào: Đậu cô ve xào nấm bào ngư - Tráng miệng: Ổi - Cơm Sữa dielac Super Sữa dielac Cháo chim Thứ ba - Món mặn: Cá thu chiên sốt star (Vinamilk) + Super star cút đậu Bánh gạo (Vinamilk) xanh cà chua - Món canh: Cải bó xôi nấu tôm - Món xào: Giá, cà rốt xào thịt heo - Tráng miệng: Chuối bồ hương - Cơm Miến thịt bò, cà Sữa chua Miến thịt Thứ tư - Món mặn: Thịt gà om nấm rốt + Sữa chua bò, cà rốt rơm
  7. - Món canh: Đu đủ nấu cá lóc - Món xào: Mực xào cần tây - Tráng miệng: Quýt đường Thứ năm - Cơm Sữa đậu xanh, Bánh Flant Cháo lươn - Món mặn: Thịt bò kho hạt sen + Bánh đậu phộng khoai tây Flant - Món canh: Canh chua cá bớp - Món xào: Su su xào tôm - Tráng miệng: Thanh long Thứ sáu - Cơm Nước cam vắt + Pudding dừa Cháo cá - Món mặn: Thịt vịt kho dứa Pudding dừa thu nấu hẹ - Món canh: Bầu nấu tôm - Món xào: Mướp xào miến dong, thịt heo - Tráng miệng: Nho Không chỉ chú trọng vào việc bồi dưỡng nhân viên nấu ăn về cách xây dựng thực đơn mà tôi còn chú trọng đến các điều kiện cơ sở vật chất. Bởi vì cơ sở vật chất có vai trò quan trọng trong việc tổ chức tốt bữa ăn học đường cho trẻ. Với cơ sở vật chất đầy đủ và hiện đại thì nhà trường mới có khả năng cung cấp cho trẻ môi trường giáo dục tốt nhất. Việc trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác tổ chức bữa ăn học đường bao gồm: Các điều kiện về an toàn thực phẩm như: điều kiện vệ sinh; điều kiện
  8. trang thiết bị dụng cụ; điều kiện con người; nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, nguồn nước. Hàng tháng tôi đều có kế hoạch kiểm tra việc đảm bảo các điều kiện về an toàn thực phẩm qua việc kiểm tra nếu có vấn đề gì chưa đảm bảo thì tôi cho thực hiện ngay nhất là điều kiện vệ sinh còn đối với các trang thiết bị dụng cụ nếu hư hỏng thì đề xuất mua bổ sung, thay thế kịp thời. Các nguyên liệu, phụ gia khi nhập hàng vào tôi thường kiểm tra nhãn mác, bao bì, hạn sử dụng trước khi nhập vào. Các điều kiện khi tổ chức bếp ăn và tổ chức giờ ăn cho trẻ: bếp ăn luôn đảm bảo thoáng mát, đủ ánh sáng, có lưới ngăn ngừa côn trùng và động vật gây hại xâm nhập vào. Giờ ăn của trẻ tôi chỉ đạo giáo viên thực hiện đúng quy trình, đảm bảo an toàn như: sau khi chia ăn xong giáo viên phải đậy nắp các nồi đựng thức ăn lại, khi chia có đầy đủ dụng cụ gắp thức ăn...Bồn rửa tay, nhà vệ sinh được thiết kế phù hợp với số lượng trẻ ăn tại trường. Nhà bếp được thiết kế độc lập với các khối phòng chức năng khác; gồm có khu sơ chế, khu chế biến, khu nấu ăn, khu chia thức ăn; được thiết kế và tổ chức theo dây chuyền hoạt động một chiều. Kho bếp: phân chia riêng biệt kho lương thực và kho thực phẩm; có lối nhập, xuất hàng thuận tiện, độc lập và phân chia khu vực cho từng loại thực phẩm; có thiết bị bảo quản thực phẩm; tường, trần, nền nhà khu vực kho thực phẩm không thấm nước, rạn nứt, ẩm mốc Nơi chế biến thức ăn: Bếp ăn được thiết kế theo nguyên tắc một chiều. Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ cho việc ăn uống, chế biến và sinh hoạt, nước sinh hoạt sử dụng nguồn nước máy. Có dụng cụ chế biến, bảo quản và sử dụng riêng đối với thực phẩm tươi sống và thực phẩm đã qua chế biến. Có đủ dụng cụ chia, gắp, chứa đựng thức ăn, dụng cụ ăn uống bảo đảm sạch sẽ, không thôi nhiễm chất độc hại và không gây ô nhiễm đối với thực phẩm, duy trì chế độ vệ sinh hàng ngày. Có trang bị găng tay sạch sử dụng một lần khi tiếp xúc trực tiếp với thức ăn; có ủng, dép để sử dụng riêng trong khu vực chế biến thực phẩm. Có làm tấm lưới ruồi để ngăn ngừa ruồi, dán, côn trùng và động vật gây hại. Có bồn rửa tay, nhà vệ sinh; có dụng cụ chứa đựng rác thải, chất thải bảo đảm kín, có nắp đậy và thu dọn chất thải, rác thải hàng ngày sạch sẽ. Khu vực ăn uống: có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ cho việc ăn uống, vệ sinh. Dụng cụ ăn uống được làm bằng inox, rửa sạch, sấy khô. Khu vực cho trẻ ăn thoáng mát,
  9. có đủ bàn ghế và thường xuyên bảo đảm sạch sẽ. Có bồn rửa tay, nhà vệ sinh đầy đủ cho trẻ; có dụng cụ chứa đựng rác thải, chất thải bảo đảm kín, có nắp đậy và thu dọn chất thải, rác thải hàng ngày sạch sẽ. Khu trưng bày, bảo quản thức ăn: Thực phẩm chín, ăn ngay thì để trong tủ kính hoặc thiết bị bảo quản hợp vệ sinh, chống được bụi, mưa, nắng và sự xâm nhập của côn trùng và động vật gây hại. Thực phẩm chín, ăn ngay được bày trên kệ hoặc giá cao hơn mặt đất (ít nhất 60cm). Có đủ dụng cụ bảo đảm vệ sinh để kẹp, gắp và xúc thức ăn. Ngay từ đầu năm học tôi khảo sát sơ bộ các điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường, nếu cơ sở vật chất hoặc trang thiết bị không đảm bảo an toàn thì tôi yêu cầu bộ phận nhân viên nấu ăn làm đề xuất nộp cho tôi sau đó tôi kiểm và tham mưu với Hiệu trưởng cho mua thay thế hoặc sửa chữa kịp thời. Ví dụ: đầu năm học bếp ăn của nhà trường xây dựng hơi cao nên trong quá trình nấu các cô nhân viên nấu ăn phải đứng lên bục mới nấu được thì không đảm bảo an toàn. Vì vậy tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng cho hạ bếp xuống vừa thuận tiện cho các cô trong quá trình nấu mà vừa đảm bảo an toàn trong khi nấu. Một số trang thiết bị như xoong, nồi, chảo trong quá trình sử dụng sẽ hư hỏng tôi kiểm tra thường xuyên nếu thấy hư tôi cho thanh lý và đề xuất mua sắm kịp thời nhằm đảm bảo đầy đủ dụng cụ trong quá trình sơ chế, chế biến món ăn cho trẻ. Ngoài ra tôi còn tham mưu mua thêm một số máy móc hiện đại như: máy xay sinh tố, máy đánh trứng, máy ép củ quả, máy xay thịt nhằm làm giảm công sức cho các cô trong quá trình nấu Nếu có đầy đủ các đồ dùng, trang thiết bị như vậy thì tạo điều kiện cho các cô nhân viên nấu ăn sẽ nghiên cứu nấu cho trẻ các món ăn mới lạ hơn, ngon hơn, hấp dẫn hơn. Ngoài ra muốn tổ chức tốt bữa ăn học đường cho trẻ thì việc tổ chức giờ ăn cho trẻ cũng rất quan trọng. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn trường tôi bồi dưỡng giáo viên cách tổ chức giờ ăn cho trẻ tại các nhóm, lớp để giáo viên nắm và thực hiện tốt như: chuẩn bị, trong khi ăn và sau khi ăn giáo viên làm những việc gì? Sau khi triển khai trong buổi sinh hoạt chuyên môn thì hàng tháng tôi luôn có kế hoạch đi dự giờ, kiểm
  10. tra giờ ăn của các lớp thì thấy giáo viên thực hiện rất tốt quy trình tổ chức giờ ăn cho trẻ, giáo viên tạo được bầu không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ trong giờ ăn. Tóm lại, tổ chức tốt bữa ăn học đường trong nhà trường với những tiêu chuẩn rất cụ thể về nhu cầu dinh dưỡng, về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm không những giúp trẻ phát triển tối đa về thể chất và tinh thần mà còn phòng chống được tình trạng thừa cân,béo phì ở trẻ. Giải pháp 3: Tăng cường tổ chức các hoạt động thể lực cho trẻ. Việc tăng cường tổ chức các hoạt động thể lực cho trẻ sẽ giúp cho trẻ phát triển tốt về chiều cao. Tăng cường sự rắn chắc của xương và cơ bắp. Giúp nâng cao sức khỏe, tăng sự linh hoạt, nhanh nhẹn, sức mạnh, sức bền. Giúp trẻ cân bằng năng lượng và duy trì cân nặng hợp lý cho cơ thể. Tăng cường lưu thông máu giúp trẻ có trái tim khỏe mạnh, đầu óc minh mẫn, thông minh hơn, học giỏi hơn. Giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính như ung thư, tăng huyết áp, thừa cân, béo phì, cận thị, đái tháo đường Hình thành và phát triển ở trẻ các kỹ năng sống cần thiết như: kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm, tinh thần trách nhiệm, khả năng thích nghi. Trước hết để có môi trường cho trẻ hoạt động thể lực phong phú, đang dạng các thể loại thì tôi phải nghiên cứu các hoạt động phát triển thể lực cho trẻ sau đó tham mưu với Hiệu trưởng xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động. Ví dụ: Sân bãi để tổ chức các hoạt động thể lực, các bài tập, trò chơi vận động trong trường phải an toàn và đủ rộng. Ngoài những trang thiết bị tối thiểu theo yêu cầu giáo dục mầm non được đặt trong khu phát triển thể chất tôi còn tham mưu với Hiệu trưởng mua và làm thêm một số trang thiết bị ngoài trời khác như: thang leo 5-7 gióng, cổng chui, cầu môn, cột bóng rổ, thang leo bằng dây, các khối trụ tạo thành bậc tâng cấp... nhằm phục vụ công tác giáo dục phát triển thể chất và tổ chức các hoạt động thể thao trong nhà trường. Tôi còn chỉ đạo giáo viên làm một số đồ dùng cho trẻ tập luyện như: tạ, túi cát, trụ ném vòng, cà kheo... Không những chỉ xây dựng môi trường mà tôi còn chỉ đạo giáo viên cần tăng cường tập cho trẻ các bài tập khởi động. Ví dụ như: cho trẻ đi thường, đi nhanh, đi gót chân, đi kiễng gót, chạy chậm, chạy nhanh...các hoạt động này giáo viên phải tổ chức đan xen
  11. với nhau từ chậm đến nhanh dần, nhanh hơn và giáo viên có thể tổ chức cho trẻ thực hiện trong giờ thể dục sáng, hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều, mọi lúc mọi nơi. Với những bài tập này sẽ giúp cơ thể trẻ được làm nóng, cơ bắp có sự chuẩn bị sẵn sàng và hệ tuần hoàn sẽ bơm máu giàu oxy đến khắp cơ thể. Tiếp theo giáo viên cần tập cho trẻ một số các bài tập vận động như: bài tập cổ: xoay cổ, gập cổ; bài tập tay vai: xoay tròn 2 cánh tay, đưa tay ra phía trước - sang ngang, đánh chéo hai tay ra phía trước - phía sau; bài tập lưng, bụng: đứng nghiên người sang 2 bên, cúi về trước - ngửa ra sau; bài tập chân: khuỵu gối, bật đưa chân sang ngang, đưa chân ra các phía, nâng cao chân gập gối, bật về các phía; bài tập bóng; bài tập với vòng...Các bài tập vận động này giáo viên có thể tổ chức vào hoạt động thể dục sáng, hoạt động học, hoạt động chiều...Khi tập các bài tập như này sẽ giúp trẻ tiêu hao năng lượng, nâng cao sức khỏe, tăng cường thể lực. Tôi còn chỉ đạo giáo viên tổ chức một số các trò chơi cho trẻ như: chạy tiếp sức rèn luyện kỹ năng chạy, phát triển sức nhanh và phối hợp, tính tập thể; đứng lên ngồi xuống theo lệnh rèn luyện phản xạ và sự tập trung cố gắng và ý thực kỷ luật; lăn bóng rèn luyện phản xạ, tập trung vào mục tiêu, sự phối hợp động tác cho nhịp nhàng... Các bài tập vận động, các trò chơi giáo viên tổ chức cho trẻ đơn giản, đa dạng, phong phú, mới lạ cơ bản là “chơi vận động”; trẻ vận động cơ thể một cách sôi động và phóng khoáng tự do, là “vui chơi” để trẻ cảm nhận được sự thích thú và thoải mái, phù hợp với nhu cầu, sở thích được vui chơi, vận động, đặc điểm tâm sinh lý, phát triển thể chất của lứa tuổi và điều kiện thực tiễn tại nhà trường. Sau khi triển khai cho giáo viên thì tôi có kế hoạch đi kiểm tra việc thực hiện của giáo viên, qua kiểm tra tôi thấy giáo viên thường xuyên chú ý tổ chức các hoạt động thể lực cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Qua đó giúp trẻ tăng cường vận động nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc và phòng bệnh tật, giúp trẻ em hình thành các vận động cơ bản của cơ thể cũng như các vận động là nền tảng của các loại vận động, vận dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Bước đầu hình thành thói quen rèn luyện và giữ gìn sức khỏe.
  12. Không những thế tôi còn tham mưu với Hiệu trưởng tổ chức Hội thao cấp trường cho trẻ với các môn như: trò chơi vận động liên hoàn, đá bóng vào cầu môn... Qua Hội thao sẽ tạo điều kiện cho giáo viên tăng cường tập luyện cho trẻ nhằm khuyến khích trẻ hoạt động thể lực. Ngoài ra tôi còn chỉ đạo giáo viên khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động lao động tự phục vụ, giúp đỡ cô giáo và các bạn như: tự rửa mặt, rửa tay, sắp xếp bàn ghế, tô, muỗng trước và sau khi ăn...Không nên bắt trẻ ngồi học quá nhiều, hạn chế cho trẻ ngồi xem tivi và các trò chơi điện tử. Qua việc thực hiện tốt biện pháp trên nhằm giúp trẻ tiêu hao năng lượng do thức ăn cung cấp đồng thời giúp trẻ có hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ xương khỏe mạnh. Từ đó không những giúp cho nhà trường duy trì được sức khỏe trẻ phát triển bình thường mà giảm được tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì so với đầu năm. Qua đó nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường. Giải pháp 4: Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của phụ huynh về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong nhà trường. Tuyên truyền về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong nhà trường đối với phụ huynh có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho cha mẹ trẻ những thông tin cần thiết về hậu quả của việc trẻ bị thừa cân, béo phì và cách phòng chống. Ngay từ đầu năm học tôi phối hợp với y tế xây dựng kế hoạch tryền thông về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trình Hiệu trưởng ký duyệt. Sau đó theo kế hoạch tôi thực hiện công tác tuyên truyền với các hình thức như: thông qua các bảng tuyên truyền trước cổng trường như pano, ap phích với các nội dung tuyên truyền như: 10 lời khuyên về dinh dưỡng, nhu cầu năng lượng theo khuyến nghị ...Thông qua bảng tin của nhà trường, bản tin được đặt ở vị trí dễ theo dõi, hình ảnh, chữ viết rõ ràng để thu hút sự chú ý của các bậc phụ huynh với các nội dung: tháp dinh dưỡng hợp lý, hướng dẫn bà mẹ thực hành chế biến bữa ăn bổ sung hợp lý cho trẻ và chuẩn bị bữa ăn cho trẻ tại nhà, đảm bảo chế độ ăn phù hợp với lứa tuổi và tình trạng dinh dưỡng của trẻ; Hướng dẫn phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng như: phòng chống thiếu máu, thiếu vitamin A thông qua bữa ăn dinh dưỡng hợp lý và tạo nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng cho
  13. bữa ăn gia đình; Thực hành dinh dưỡng tốt, sẵn có ở cộng đồng, ví dụ: cho trẻ ăn cá, ăn nhiều rau...những thực hành chưa tốt, ví dụ: cho trẻ ăn nhiều đồ chiên rán, đường ngọt, bỏ bữa sáng để truyền thông thay đổi thói quen của bà mẹ; hướng dẫn cha mẹ cho trẻ vận động phù hợp với lứa tuổi: đi bộ, đạp xe, chạy...hạn chế thời gian tĩnh cho trẻ như: chơi game, xem tivi. Ngoài ra còn tuyên truyền thông qua các cuộc họp phụ huynh học sinh trường, trang Website, các trang mạng xã hội như zalo, Facebook Hàng tháng tôi đi kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tuyên truyền của nhân viên y tế xem thực hiện có kịp thời, đầy đủ hay không. Qua kiểm tra tôi thấy nhân viên y tế thực hiện đúng theo kế hoạch đã xây dựng từ đó giúp cho phụ huynh nắm bắt được thông tin kịp thời và nhận thức được hậu quả của việc thừa cân, béo phì ở trẻ. Tôi chỉ đạo giáo viên mỗi lớp đều xây dựng góc tuyên truyền dành cho phụ huynh nhằm cung cấp cho phụ huynh những thông tin cần thiết trong thời gian đón và trả trẻ. Bảng tuyên truyền được thiết kế và trang trí đẹp mắt, thu hút sự chú ý, hình ảnh minh họa, chữ viết được trình bày rõ ràng. Giáo viên luôn lựa chọn những nội dung thông tin tuyên truyền thiết thực, hữu ích, đảm bảo chính xác. Đặc biệt là cung cấp các thông tin về phòng, chống thừa cân, béo phì đang thực hiện tại lớp. Thông tin được thực hiện theo kế hoạch hàng tháng một cách cụ thể để phụ huynh thuận tiện theo dõi và phối hợp với phụ huynh trong quá trình giáo dục trẻ. Ví dụ: Tháng 10: tuyên truyền về tháp dinh dưỡng hợp lý. Tháng 11: tuyên truyền về công dụng của một số vitamin và khoáng chất có trong thực phẩm đối với cơ thể. Tháng 12: tuyên truyền về bữa ăn học đường. Tháng 01: tuyên truyền về hướng dẫn tổ chức tăng cường các hoạt động thể lực cho trẻ tại trường mầm non. Tháng 02: tuyên truyền về cách phát hiện sớm trẻ thừa cân, béo phì và biện pháp phòng tránh cho phụ huynh nắm để phụ huynh có biện pháp xử trí sớm cho trẻ nhằm giảm tỉ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì trong nhà trường. Ngoài ra tôi còn chỉ đạo giáo viên tuyên truyền về việc thực hiện cân đo cho trẻ, một năm nhà trường tổ chức cân đo cho trẻ 4 lần/năm, sau khi cân đo, chấm biểu đồ cho trẻ thì giáo viên tổng hợp kết quả cân đo trẻ dán vào góc tuyên truyền để khi đón, trả
  14. trẻ phụ huynh xem để nắm bắt tình hình sức khỏe của con em mình. Không những thế tôi còn chỉ đạo giáo viên hướng dẫn phụ huynh cách sử dụng biểu đồ tăng trưởng để theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở nhà, đặc biệt lưu ý đối với những trẻ có nguy cơ thừa cân hoặc tăng cân nhanh trong thời gian ngắn. Tóm lại: Nhà trường thực hiện tốt công tác tuyên truyền về vấn đề phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ sẽ giúp nâng cao nhận thức cho phụ huynh về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc trẻ bị thừa cân, béo phì trong nhà trường và cách phòng, chống cho trẻ thừa cân, béo phì phù hợp với khả năng của từng trẻ. 5.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến: - Khả năng mang lại lợi ích của sáng kiến: Sau khi thực hiện các giải pháp nêu trên đã khắc phục được những hạn chế trong việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ tại trường mầm non như sau: Giáo viên nắm được các nội dung về hướng dẫn chế độ ăn hợp lý cho trẻ. Công tác tổ chức tốt bữa ăn học đường cho trẻ luôn được cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường quan tâm, chú ý. Giáo viên chú ý tăng cường tổ chức các hoạt động thể lực cho trẻ từ đó góp phần đem lại hiệu quả cao trong việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ. Công tác tuyên truyền về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong nhà trường luôn được phụ huynh quan tâm, theo dõi. Qua một năm áp dụng các biện pháp trên, hiệu quả về việc phòng chống thừa cân, béo phì được nâng cao rõ rệt, cụ thể: Tiêu chí Khi chưa áp dụng biện pháp Khi đã áp dụng biện pháp Tỉ lệ trẻ thừa cân 7,6% 6,9% Tỉ lệ trẻ béo phì 3,8% 2,7%
  15. Tỉ lệ trẻ bình thường 89,7% 94,5% Giáo viên nắm được các nội 65% 95% dung hướng dẫn chế độ ăn hợp lý cho trẻ Công tác tổ chức tốt bữa ăn 75% 100% học đường cho trẻ được cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường quan tâm Giáo viên tăng cường tổ chức 65% 97% các hoạt động thể lực cho trẻ. Phụ huynh quan tâm đến việc 60% 95% phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ - Các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp: + Đối với các bộ quản lý trường mầm non: Phải nắm vững các văn bản pháp lý, các quy định và hướng dẫn về phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường mầm non. + Nhà trường phải đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất: có bếp ăn, đồ dùng, dụng cụ, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thể lực cho trẻ. + Đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, tâm huyết với nghề. .- Phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Trong phạm vi các trường mầm non trên địa bàn thị xã Ninh Hòa. 6. Các thông tin cần được bảo mật: Các biện pháp thực hiện sáng kiến trước khi được công bố.
  16. 7. Kết luận Phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ trong trường mầm non nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, trí tuệ và thể lực cho trẻ. Thực hiện tốt việc phòng chống thừa cân, béo phì cho trẻ tại trường sẽ giúp cho nhà trường giảm được tỷ lệ trẻ bị thừa cân, béo phì xảy ra trong nhà trường từ đó góp phần phát triển toàn diện trẻ về các mặt: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội.