Tài liệu ôn tập hệ thống kiến thức Ngữ văn Lớp 8 - Năm học 2019-2020
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập hệ thống kiến thức Ngữ văn Lớp 8 - Năm học 2019-2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
tai_lieu_on_tap_he_thong_kien_thuc_ngu_van_lop_8_nam_hoc_201.doc
Nội dung tài liệu: Tài liệu ôn tập hệ thống kiến thức Ngữ văn Lớp 8 - Năm học 2019-2020
- HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC NGỮ VĂN LỚP 8 – NĂM HỌC 2019-2020 ************** A . NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CẦN LƯU Ý : 1. Phần Đọc – Hiểu văn bản : Trọng tâm chương trình Ngữ văn 8 học kì 1 là đọc- hiểu tác phẩm tự sự và văn bản nhật dụng và một số tác phẩm trữ tình, khi ôn tập học sinh cần chú ý một số nội dung cơ bản sau : a. Nắm được nội dung cụ thể và vẻ đẹp của các tác phẩm tự sự đã học trong chương trình (Tôi đi học, Trong lòng mẹ, Lão Hạc, Tức nước vỡ bờ, Cô bé bán diêm, Đánh nhau với cối xay gió, Chiếc lá cuối cùng, Hai cây phong) : nội dung cốt truyện, nhân vật, các chi tiết tiêu biểu, ngôn ngữ kể chuyện; vẻ đẹp của các hình tượng , các nhân vật điển hình, b. Nắm được nội dung cụ thể và vẻ đẹp của các tác phẩm trữ tình đã học trong chương trình (Đập đá ở Côn Lôn, Ông đồ, Quê hương, Nhớ rừng) : nội dung trữ tình, cách thức trữ tình, vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ ca, vai trò và tác dụng của các biện pháp tu từ trong các tác phẩm trử tình, c. Nắm được nội dung và ý nghĩa của một số văn bản nhật dụng: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá, Bài toán dân số. 2. Về phần Tiếng Việt : a. Lý thuyết: Ôn lại các kiến thức : - Trường từ vựng; - Từ tượng thanh, từ tượng hình, từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội, trợ từ, thán từ, tình thái từ; - Các biện pháp tu từ từ vựng : đặc điểm và tác dụng của nói quá, nói giảm nói tránh - Câu ghép; - Hệ thống dấu câu : đặc điểm và công dụng của dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép và dấu hai chấm - Câu chia theo mục đích nói: câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật b. Thực hành: Biết vận dụng kiến thức trên vào thực tế ( viết Tập làm văn, đọc – hiểu văn bản, nói viết trong giao tiếp hàng ngày) 3. Về phần tập làm văn :Cần ôn tập các nội dung chính sau : a. Nắm được đặc điểm của văn bản tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm. Biết cách làm một bài văn, đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm. b. Nắm được đặc điểm, yêu cầu và phương pháp làm bài văn thuyết minh; biết cách làm bài văn thuyết minh. B. HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC CÁC VĂN BẢN 1. Truyện ngắn “Tôi đi học” – Thanh Tịnh: – Phương thức biểu đạt: Tự sự, biểu cảm, miêu tả (tự sự là phương thức chính). – Chủ đề: Tác phẩm kể về kỉ niệm khó quên trong đời vào buổi sáng ngày đầu tiên đến trường. – Nghệ thuật: Kết hợp tự sự và các yếu tố miêu tả, biểu cảm đồng thời sử dụng những từ ngữ, hình ảnh mang đậm tính gợi hình, gợi cảm. – Nội dung chính: “Tôi đi học” là truyện ngắn thể hiện những cảm nhận tinh tế của tuổi học trò trong ngày đầu tiên đến lớp. Kỷ niệm đó trở thành một ký ức đẹp lưu giữ trong tim của những ai từng cắp sách đến trường. Thanh Tịnh đã tái hiện những cảm xúc ấy bằng những câu văn tự sự mượt mà, đầy tình cảm. Song song đó, người đọc còn thấy được cách thức miêu tả độc đáo thông qua những hình ảnh so sánh đầy tính tạo hình. 2. Đoạn trích “Trong lòng mẹ” – Nguyên Hồng (trích Hồi kí tự truyện “Những ngày thơ ấu”): – Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp biểu cảm, miêu tả. – Chủ đề: Tình yêu thương của bé Hồng dành cho mẹ và những nỗi tủi nhục, đau đớn mà chú bé ngây thơ phải chịu đựng trong những ngày không có mẹ kề bên. – Nghệ thuật: Kết hợp tinh tế giữa tự sự và trữ tình đồng thời thành công ở việc ây dựng kết cốt truyện độc đáo, tình huống hấp dẫn. – Nội dung chính: Đoạn trích “Trong lòng mẹ”, trích hồi ký “Những ngày thơ ấu”, đã tái hiện tuổi thơ cay đắng của Nguyên Hồng. Qua đoạn trích, người đọc có thể thấy được những chân thành, tha thiết của tình mẫu tử. Từ cảnh ngộ và tâm sự của chú bé Hồng, tác giả còn cho thấy bộ mặt lạnh lùng của một xã hội kim tiền, cổ hủ, nhỏ nhen, độc ác. 1
- 3. Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” – Ngô Tất Tố (trích tiểu thuyết “Tắt đèn”) – Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp biểu cảm, miêu tả. – Chủ đề: Phản ánh hiện thực xã hội với sự áp bức của thực dân, phong kiến đồng thời đề cao phẩm chất cao đẹp và sức mạnh của người nông dân nghèo khổ. – Nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện gay cấn, kịch tính cùng hệ thống nhân vật đối lập, tương phản, mang đặc điểm riêng, phù hợp với tạo hình. Qua đó thể hiện được giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. – Nội dung chính: Bút pháp hiện thực của Ngô Tất Tố đã vạch trần bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội đương thời và tình cảnh khốn cùng của người nông dân trong thời kỳ đen tối ấy. Người đọc có thể cảm nhận được quy luật tất yếu của xã hội, một khi có áp bức tức là có đấu tranh, dù sự đấu tranh chỉ diễn ra bằng phản kháng đơn thuần. Đồng thời, tác giả cũng xây dựng nhân vật chị Dậu – người phụ nữ thương chồng, yêu con với vẻ đẹp tâm hồn cao thượng và sức sống tiềm tàng cố hữu của người nông dân. 4. Truyện ngắn “Lão Hạc” – Nam Cao – Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp biểu cảm, miêu tả. – Chủ đề: Tình cảnh khốn cùng và nhân cách cao quý của người nông dân và tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả dành cho những người nông dân nghèo khổ. – Nghệ thuật: Khắc họa nhân vật tự nhiên, ngôn ngữ chân thật, hành động rõ ràng. Cách kể chuyện hấp dẫn, kết hợp tự sự với triết lí, trữ tình. – Nội dung chính: Nam Cao đã khắc họa nhân vật Lão Hạc với những nỗi khốn khổ của người nông dân trước Cách mạng Tháng Tám, đó là những con người bần cùng, bị bốc lột đến vực sâu xã hội. Đau đớn hơn trong thời kỳ ấy, người nông dân chỉ có thể tìm đến cái chết mới có thể giữ gìn phẩm giá của mình. Khắc họa nội tâm nhân vật với những đớn đau, dằn vặt, Nam Cao đã thể hiện sự cảm thông, thương yêu và trân trọng những kiếp người nhỏ bé trong xã hội bạo tàn. Tất cả đã thể hiện được giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và tài năng độc đáo của tác giả. 5. Văn bản “Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000” – Theo tài liệu Sở KHCN Hà Nội – Phương thức biểu đạt: Thuyết minh kết hợp với nghị luận. – Chủ đề: Kêu gọi cộng đồng ý thức được tác hại của bao bì ni lông, từ đó có những hành động thiết thực để giảm thiểu nhu cầu dùng bao bì ni lông. – Nghệ thuật:Vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp thuyết minh: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, phân loại, phân tích. – Nội dung chính: Bằng hình thức trang trọng cùng tinh thần cộng đồng trách nhiệm, Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 như một bức thông điệp gửi đến toàn nhân loại. Trong bức thông điệp, những vấn đề liên quan đến sử dụng bao ni lông và tác hại mà nó dẫn đến được trình bày ngắn gọn, khúc chiết và rõ ràng. Bài viết còn gợi mở những cách thức biện pháp để hạn chế bao ni lông, góp phần vào việc giảm thiểu chất thải sinh hoạt. Đó là việc làm đơn giản nhưng lại vô cùng cấp thiết để bảo vệ trái đất, giữ gìn ngôi nhà chung của nhân loại. 6. Văn bản “Ôn dịch thuốc lá” – Theo Nguyễn Khắc Viện “Từ thuốc lá đến ma tuý – Bệnh nghiện” – Phương thức biểu đạt: Thuyết minh kết hợp với nghị luận. – Chủ đề: Thể hiện quyết tâm phòng chống thuốc lá trên cở sở nhận thức được những tác hại to lớn, nhiêu mặt và lâu dài của thuốc lá đối với đời sống cộng đồng. – Nghệ thuật: thuyết minh với những lập luận chặt chẽ đầy thuyết phục. Vận dụng các phương pháp thuyết minh: giải thích, so sánh, nêu ví dụ. – Nội dung chính: Như một cản bệnh hiểm nghèo của xã hội, nghiện thuốc lá được tác giả gọi là “ôn dịch” bởi những tác hại ghê gớm mà nó gây ra: lan truyền nhanh, gặm nhấm sức khỏe ngay cả những người không hút thuốc lá. Những tác hại mà thuốc lá gây ra không chỉ đơn thuần ở khía cạnh sức khỏe, nó còn tàn phá kinh tế, suy yếu xã hội, hư hỏng thế hệ tương lai. Từ những dẫn chứng đầy thuyết phục, tác giả đã gián tiếp đặt ra vấn đề đáng để xã hội suy ngẫm, phải làm sao để đẩy lùi căn bệnh “ôn dịch” này. 7. Văn bản “Bài toán dân số” – Theo Thái An, Báo Giáo dục – Thời đại – Phương thức biểu đạt: Nghị luận (kết hợp với tự sự). 2
- – Chủ đề: Tình hình dân số thế giới ngày một gia tăng, đặt ra những tiếng chuông báo động về nguy cơ bùng nổ và gia tăng dân số, đặc biệt là ở những dân tộc chậm phát triển. – Nghệ thuật: Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng rõ ràng, đa dạng, số liệu minh chứng phong phú đầy sức thuyết phục. – Nội dung chính: Bài báo với nội dung tương đối ngắn gọn nhưng lại chứa đựng nội dung rất có ý nghĩa. Để tăng sức thuyết phục cho lý lẽ của mình, người viết đã sử dụng nhiều số liệu minh chứng cụ thể, rõ ràng Cả nhân loại đang đứng trước nguy cơ bùng nổ và gia tăng dân số quá nhanh. Đó là một hiểm họa cần báo động, là con đường “tồn tại hay không tồn tại” của chính con người. 8. Tác phẩm “Đập đá ở Côn Lôn” – Phan Châu Trinh. – Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật. – Phương thức biểu đạt: Biểu cảm (kết hợp với tự sự, miêu tả). – Chủ đề: Vẻ đẹp của người chí sĩ yêu nước dù bị tù đày đến tận đảo xa nhưng vẫn giữ khí phách và nung nấu ý chí cách mạng. – Nghệ thuật: Giọng điệu ngang tàng, sử dụng nhiều hình ảnh đối lập, hình ảnh ước lệ tượng trưng. – Nội dung chính: “Đập đá ở Côn Lôn” đã khắc họa nên hình tượng của người anh hùng bất đắc chí, vướng vào tù tội bởi lòng yêu nước và ý chí độc lập, tự chủ. Với nhiều hình ảnh đối lập cùng cách ngắt nhịp linh hoạt tạo nên khẩu khí ngang tàng, xem lao động khổ sai như “việc con con”, dù cực khổ, gian lao không những không hề than vãn mà con nun nấu ý chí chiến đấu sắc son. 9. Tác phẩm “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” – Phan Bội Châu. – Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật. – Phương thức biểu đạt: Biểu cảm (kết hợp với tự sự, miêu tả). – Chủ đề: Thái độ ngang tàng, ngạo nghễ của người chí sĩ yêu nước. – Nghệ thuật: Giọng điệu đa dang, linh hoạt, sử dụng điệp từ, dùng lối nói khoa trương, phóng đại – Nội dung chính: Thông qua “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác”, Phan Bội Châu đã thể hiện được những suy tư chất chứa trong lòng, khi thì trào phúng cười cợt, khi thì trầm thống, thiết tha, khi thì ngang tàng ngạo nghễ và kết túc bàng lời thơ đầy khí phách, tự hào. Những hình ảnh phóng đại như hòa cùng giọng điệu bài thơ khắc sâu vào tượng đài người tù những dấu ấn của sự hào hùng vươt lên thực tại khắc nghiệt của chốn đề lao. 10. Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” – An-đéc-xen. – Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm). – Chủ đề: Lòng thương cảm, xót xa dành cho những số phận bất hạnh – Nghệ thuật: Câu chuyện cổ tích với nhiều tình tiết kỳ ảo, sắp xếp hợp lý. Bối cảnh tạo dựng với hình ảnh đối lập, tăng sắc thái biểu cảm cho câu chuyện. – Nội dung chính: Bằng những hình ảnh cảm động, An-đéc-xen, qua câu chuyện Cô bé bán diêm đã thể hiện được niềm cảm thông, thương yêu dành cho em bé bất hạnh. Những yếu tố phi lí trong câu chuyện càng bộc lộ được sự sẻ chia của tác giả. Xây dựng kết thúc chuyện bằng “một cảnh thương tâm”, An-đéc-xen cũng đã gián tiếp phê phán xã hội lạnh lùng, vô cảm, không có tình thương. 11. Đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” – Xéc-van-téc (trích tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê): – Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm). – Chủ đề: Thể hiện sự tương phản trong tính cách con người đồng thời thể hiện khát vọng cao đẹp về tình yêu. – Nghệ thuật: Thủ pháp phóng đại trong dựng cảnh, tương phản trong miêu tả nhân vật cùng giọng điệu trào phúng, hóm hỉnh. – Nội dung chính: Đánh nhau với cối xay gió là một trang đời, một trong những chiến công của Đôn Ki-hô-tê. Với thủ pháp trào lộng, phóng đại và tương phản đối lập, tác trong kể chuyện, Xéc- van-téc đã xây dựng hình ảnh của một trang hiệp sĩ Tây Ban Nha đã lỗi thời của thời Trung cổ. Đằng sau bề mặt câu chữ, người đọc luôn bắt gặp nụ cười của trào phúng của Xéc-van-téc nhưng ẩn bên trong tiếng cười ấy là sự đề cao trong chừng mực tình yêu tự do, sự bình đẳng, cách sống thiết thực, yêu đời. 12. Truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” – O Hen-ri: – Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm). – Chủ đề: Thể hiện tình thương cùng với quan niệm nghệ thuật chân chính của nhà văn O Hen – ri. 3
- – Nghệ thuật: Xây dựng tình huống truyện bất ngờ với hai lần đảo lộn tình thế đồng thời, còn thể hiện tính cách thông qua hành động và lời nói nhân vật. – Nội dung chính: “Chiếc lá cuối cùng”, một sáng tác của O Hen – ri, là truyện ngắn viết về những con người bình thương nhưng lại tạo những ấn tượng khó phai bởi ánh sáng nhân đạo, tình thương người toát ra từ các nhân vật bình thường ấy. “Bức thông điệp màu xanh” mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm đã thể hiện những tình cảm chân thành, lời nhắn nhủ thiết tha mong mỏi nhân loại hãy phấn đấu cho hạnh phúc của con người, đem nghệ thuật phục vụ con người, hướng đến con người. 13. Truyện ngắn “Hai cây phong” – Ai-ma-tốp (trích “Người thầy đầu tiên”) – Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm). – Chủ đề: Qua câu chuyện về hai cây phong, tác giả đã thể hiện tình yêu quê hương tha thiết cùng với những kỷ niệm khó quên thuở ấu thơ cùng người thầy đầu tiên đáng kính. – Nghệ thuật: Đa dạng trong sử dụng đại từ (“tôi”, “chúng tôi”). Kết hợp miêu tả thông qua liên tưởng, tưởng tượng mang giá trị tạo hình cao. – Nội dung chính: Đoạn trích “Hai cây phong” trong “Người thầy đầu tiên” của Ai-ma-tốp đã khắc họa hình ảnh hai cây phong hết sức sinh động. Hai cây phong hiện lên rõ nét không chỉ thông qua thị giác mà còn được cảm nhận bằng thính giác với những âm thanh khi xôn xao, khi lại rì rào, có lúc lại háo hức, reo vui. Từ hình ảnh ấy, tác giả tinh tế “rẽ lối” sang câu chuyện về người thầy Đuy- sen, người thầy đầu tiên, bằng những bài học ý nghĩa đã khơi sâu tình yêu quê hương, vun xới ước mơ của những cô cậu học trò thơ dại. C .ĐỀ MINH HỌA ĐỀ 1 Kể lại kỉ niệm ngày đầu tiên đi học I. Mở bài: - Thấy các em nhỏ chuẩn bị sách vở, quần áo đón năm học mới, tôi lại nôn nao nhớ đến ngày đầu tiên đi học của mình. (Hoặc: - Tình cờ trông thấy bức ảnh trong ngày đầu mình đi học. - Một món quà lưu niệm gợi nhớ ngày đầu tiên đi học, ) - Nhớ nhất là những cảm giác bỡ ngỡ, hồi hộp, sợ sệt của mình. II. Thân bài: 1/ Trước ngày khai giảng: - Trước ngày đi học, tôi được mẹ mua quần áo mới, tập sách mới. Lòng nôn nao không ngủ được. - Trằn trọc, rồi lại ngồi dậy mân mê chiếc cặp mới và những quyển tập còn thơm mùi giấy. Sáng, tôi dậy thật sớm, thay bộ đồng phục mới tinh mẹ mua từ mấy hôm trước. Trong lòng bồi hồi khó tả. 2/ Trên đường đến trường: - Chỉnh tề trong bộ đồng phục áo trắng quần xanh, đội nón lúp xúp đi bên cạnh mẹ. - Bầu trời buổi sớm mai trong xanh, cao vòi vọi, vài tia nắng xuyên qua cành cây, tán lá. Vài chú chim chuyền cành hót líu lo. - Xe cộ đông đúc, bóp còi inh ỏi. - Hàng quán hai bên đường đã dọn ra, buôn bán nhộn nhịp. - Có nhiều anh chị học sinh với khăn quàng đỏ trên vai, tươi cười đi đến trường. - Hôm ấy là ngày tổng khai giảng năm học mới nên phụ huynh đưa con đến trường thật đông. - Tôi trông thấy vài anh chị trong xóm, các bạn học mẫu giáo chung cũng được ba mẹ đưa đến trường. - Cảnh vật quen thuộc mọi ngày sao hôm nay thấy khác lạ. - Lòng tôi hồi hộp pha lẫn cảm giác e ngại rụt rè khi gần đến cổng trường tiểu học. 3/ Vào sân trường: - Ngôi trường bề thế, khang trang hơn trường mẫu giáo nhiều. - Trước cổng trường được treo một tấm băng rôn màu đỏ có dòng chữ mà tôi lẩm nhẩm đánh vần được: “Chào mừng năm học mới”. 4
- - Sân trường thật nhộn nhịp với cờ hoa, học sinh, phụ huynh, giáo viên, trông ai cũng tươi vui rạng rỡ, áo quần tươm tất. - Các anh chị lớp lớn vui mừng tíu tít trò chuyện với nhau sau ba tháng hè mới gặp lại. - Tôi quan sát thấy nhiều bạn có lẽ cũng là học sinh mới vào lớp một như tôi bởi cái vẻ rụt rè, nhiều bạn còn bíu chặt lấy tay mẹ và khóc nức nở làm mắt tôi cũng rơm rớm theo. - Một hồi trống vang lên, theo hướng dẫn của một thầy giáo các anh chị nhanh chóng xếp hàng vào lớp. Chỉ có lũ học trò lớp một bọn tôi là bối rối không biết phải làm gì. - Chúng tôi được các cô giáo chủ nhiệm đọc tên điểm danh, có nhiều bạn được gọi tên nhưng lại sợ sệt im lặng không đáp lời cô đến nỗi phụ huynh phải lên tiếng đáp thay. Khi nghe gọi đến tên tôi, tôi giật mình. Tim đập nhanh. Trán rịn mồ hôi. Dù đã đi học mẫu giáo rồi nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy hồi hộp, lo sợ thế nào ấy. Khi buông tay mẹ để bước vào hàng tôi có cảm giác bơ vơ lạc lõng. Vậy là tôi đã bước vào một thế giới khác: Rộng lớn và đầy màu sắc hơn. Nhiều bạn òa lên khóc nức nở bám lấy mẹ không chịu xếp hàng, cô giáo phải dỗ dành. Các bạn khác cũng khóc theo. - Thầy hiệu trưởng bước lên bục đọc lời khai giảng năm học mới. - Sau đó giáo viên chủ nhiệm dẫn chúng tôi vào lớp. Tôi ngoái lại tìm mẹ, chân ngập ngừng không muốn bước. Mẹ phải dỗ dành an ủi. 4/ Vào lớp học: - Ngồi vào chỗ, đón nhận giờ học đầu tiên. (Ấn tượng sâu đậm về tâm trạng vừa bỡ ngỡ vừa sợ sệt, hồi hộp, gần gũi và tự tin,..). - Mùi vôi mới, bàn ghế sạch sẽ - Quan sát khung cảnh lớp học: Các bạn ai cũng ngồi ngay ngắn, háo hức đón giờ học đầu tiên. III. Kết bài: Nhớ mãi kỉ niệm trong sáng êm đềm của tuổi thơ. ĐỀ 2 Hãy đóng vai là người chứng kiến để kể lại cảnh lão Hạc bán chó. I/ Mở bài: Ngôi kể thứ I (tôi) có mặt trong câu chuyện như người thứ 3 ngoài lão Hạc với ông giáo (phân biệt với người kể ở trong truyện của Nam Cao chính là ông giáo) Giới thiệu hoàn cảnh lão Hạc sang nhà ông giáo để kể chuyện bán chó. Ở đó có ông giáo và người kể. II/ Thân bài: - Kể: Lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo: +Lão Hạc báo tin bán chó +Lão Hạc kể lại chuyện bán chó +Miêu tả: Nét mặt đau khổ của lão Hạc +Biểu cảm: Nỗi ân hận của lão Hạc về việc bán chó và thái độ của ông giáo. +Lão Hạc: Chua chát kết thúc việc bán chó. - Miêu tả: Nét mặt của ông giáo khi nhận được tin => suy tư nghĩ ngợi và đau khổ với lão Hạc - Biểu cảm: +Nêu những suy nghĩ của bản thân với câu chuyện +Nêu những suy nghĩ về các nhân vật ở trong đó (về ông giáo và lão Hạc) III/ Kết bài: Nhắc lại sự việc bán chó. Đặc biệt là khi sự việc kết thúc. Nhận định, đánh giá chung về sự việc đó. Trở lại hoàn cảnh thực tại của mình. ĐỀ 3 Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam. I/Mở bài - Nêu lên đối tượng: Chiếc áo dài VN VD: Trên thê giới, mỗi Quốc gia đều có một trang phục của riêng mình. Từ xưa đến nay, chiếc áo dài đã trở thành trang phục truyền thống của phụ nữ Việt Nam. II/Thân Bài 1. Nguồn gốc, xuất xứ + Ko ai biết chính xác áo dài có từ bao giờ + Bắt nguồn từ áo tứ thân Trung Quốc 5
- + Căn cứ vào sử liệu, văn chương, điêu khắc, hội hoa, sân khấu dân gian.....chúng ta đã thấy hình ảnh tà áo dài qua nhiều giai đoạn lịch sử - Tiền thân của áo dài VN là chiếc áo giao lãnh, hơi giống áo từ thân, sau đó qua lao động, sản xuất chiếc áo giao lãnh mới được chỉnh sửa để phù hợp với đặc thù lao động -> áo tứ thân và ngũ thân. - Người có công khai sáng là định hình chiếc áo dài Việt Nam là chúa Nguyễn Phúc Khoát. Chiếc áo dài đầu tiên được thiết kế tại thời điểm này là sự kết hợp giữa váy của người Chăm và chiếc váy sườn xám của người trung hoa....==> áo dài đã có từ rất lâu. 2. Hiện tại + Tuy đã xuất hiện rất nhiều những mẫu mã thời trang, nhưng chiếc áo dài vẫn giữ được tầm quan trọng của nó, và trở thành bộ lễ phục của các bà các cô mặc trong các dịp lễ đặc biệt.. + Đã được tổ chức Unesco công nhận là một di sản Văn Hoá phi vật thể, là biểu tượng của người phu nữ Việt Nam. 3. Hình dáng - Cấu tạo * Áo dài từ cổ xuống đến chân * Cổ áo may theo kiểu cổ Tàu, cũng có khi là cổ thuyền, cổ tròn theo sở thích của người mặc. Khi mặc, cổ áo ôm khít lấy cổ, tạo vẻ kín đáo. * Khuy áo thường dùng bằng khuy bấm, từ cổ chéo sang vai rồi kéo xuống ngang hông. * Thân áo gồm 2 phần: Thân trước và thân sau, dài suốt từ trên xuống gần mắt cá chân. * Áo được may bằng vải một màu thì thân trước thân sau sẽ được trang trí hoa văn cho áo thêm rực rỡ. * Thân áo may sát vào form người, khi mặc, áo ôm sát vào vòng eo, làm nổi bật những đường cong gợi cảm của người phụ nữ. * Tay áo dài ko có cầu vai, may liền, kéo dài từ cổ áo --> cổ tay. * Tà áo xẻ dài từ trên xuống, giúp người mặc đi lại dễ dàng, thướt tha, uyển chuyển. * Áo dài thường mặc với quần đồng màu hoặc màu trắng bằng lụa, satanh, phi bóng....với trang phục đó, người phụ nữ sẽ trở nên đài các, quý phái hơn. - Thợ may áo dài phải là người có tay nghề cao, thợ khéo tay sẽ khiến áo dài khi mặc vào ôm sát form người. - Áo dài gắn liền tên tuổi của những nhà may nổi tiếng như Thuý An, Hồng Nhung, Mỹ Hào, ....., đặc biệt là áo dài Huế màu tím nhẹ nhàng - Chất liệu vải phong phú, đa dạng, nhưng đều có đặc điểm là mềm, nhẹ, thoáng mát. Thường là nhiễu, voan, nhất là lụa tơ tằm - Màu sắc sặc sỡ như đỏ hồng, cũng có khi nhẹ nhàng, thanh khiết như trắng, xanh nhạt...Tuỳ theo sở thích, độ tuổi. Thường các bà, các chị chọn tiết dê đỏ thẫm 4. Áo dài trong mắt người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế - Từ xưa đến nay, áo dài luôn được tôn trọng, nâng niu. - Phụ nữ nước ngoài rất thích áo dài 5. Tương lai của tà áo dài III. Kết bài Cảm nghĩ về tà áo dài, ... ĐỀ SỐ 4 Câu 1: (3,00đ) 1. Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi: ( ...) “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu gì. Trong phút rạo rực ấy, cái câu nói của cô tôi lại nhắc lại: 6
- - Mày dại quá! Vào Thanh Hóa đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào bắt mợ mày may vá, sắm sửa cho và bế em bé chứ. Nhưng bên tai ù ù của tôi, câu nói ấy bị chìm ngay đi, tôi không mảy may nghĩ ngợi gì nữa...” a) Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Văn bản đó nằm trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? Thuộc thể loại gì? Kể theo ngôi thứ mấy? b) Đoạn văn trên kể lại sự việc gì? 2. Nguyên nhân sâu xa nào đã tác động đến tâm trạng hồi sinh của Giôn-xi trong truyện “Chiếc lá cuối cùng” của O.Hen-ri? Tại sao nhà văn kết thúc truyện bằng lời kể của Xiu mà không để cho Giôn-xi phản ứng gì thêm? Câu 2: (2,00đ) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: ( ) “Biển luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm như dâng cao lên, chắc nịch. Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. Trời âm u mây mưa, biển xám xịt nặng nề. Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu, giận dữ... ” (Theo Vũ Tú Nam - Biển đẹp) a) Xác định các câu ghép trong đoạn văn trên. b) Phân tích cấu trúc của các câu ghép và xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép ấy. Câu 3: (5,00đ) Nhập vai nhân vật chị Dậu kể lại câu chuyện trong văn bản “Tức nước vỡ bờ” trích từ tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố. GỢI Ý ĐÁP ÁN 1 1. a) Đoạn văn trích từ văn bản “Trong lòng mẹ”, trong tác phẩm “Những ngày thơ (3,00đ) ấu”, tác giả là Nguyên Hồng, thể loại hồi ký (được viết năm 1938), kể theo ngôi thứ nhất. b)Đoạn trích trên kể lại sự việc: - Cảm giác sung sướng hạnh phúc của bé Hồng khi được ở trong vòng tay êm ái của mẹ. - Những lời cay độc của bà cô đã bị xóa nhòa khi Hồng được nằm trong lòng mẹ. 2. Gợi ý: - Nguyên nhân sâu xa tác động tới tâm trạng hồi sinh của Giôn-xi là sự gan góc của chiếc lá thường xuân (cô không biết đấy là chiếc lá được vẽ); nó chống chọi kiên cường với thiên nhiên khắc nghiệt, cố bám lấy cuộc sống còn ngược lại, cô lại yếu đuối, buông xuôi. Hình ảnh chiếc lá cuối cùng không chịu rụng đã thức tỉnh, khơi gợi sự sống trong tâm trí cô. -. Nhà văn kết thúc truyện bằng lời kể của Xiu mà không để cho Giôn-xi phản ứng gì thêm tạo thành một kết thúc mở, đầy bất ngờ; để lại trong lòng người đọc những suy nghĩ sâu sắc và cảm xúc lắng đọng, khiến cho câu chuyện thêm hấp dẫn. 2 a) Xác định đúng 4 câu ghép: (2,00đ) - Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm như dâng cao lên, chắc nịch. - Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương. - Trời âm u mây mưa, biển xám xịt nặng nề. - Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu, giận dữ. b) Phân tích được cấu trúc và xác định đúng mối quan hệ giữa các vế trong 4 câu ghép trên là quan hệ điều kiện - kết quả: - Trời // xanh thẳm, biển//cũng xanh thẳm như dâng cao lên, chắc nịch. - Trời // rải mây trắng nhạt, biển // mơ màng dịu hơi sương. - Trời // âm u mây mưa, biển // xám xịt nặng nề. - Trời // ầm ầm dông gió, biển // đục ngầu, giận dữ. 3 a) Mở bài: Nhân vật tôi (chị Dậu) giới thiệu khái quát câu chuyện và cảm xúc chung khi (5,00đ) kể lại chuyện đó. 7
- b.1. Giới thiệu về bản thân mình và hoàn cảnh gia đình: - Chị Dậu tự giới thiệu về mình và hoàn cảnh gia đình mình: đến mùa sưu thuế nhưng không có tiền đóng sưu - Anh Dậu bị đánh trói đến ngất xỉu, nhờ hàng xóm cứu giúp vừa tỉnh b.2 Diễn biến câu chuyện: * Quá trình tức nước: (các sự việc) - Bà lão hàng xóm giúp đỡ, nhắc nhở... Chị Dậu nấu cháo chăm sóc cho anh Dậu... - Bọn cai lệ và người nhà lí trưởng tiến vào, hằm hè, hung hăng đòi nộp sưu...Chị Dậu tha thiết van xin... - Tên cai lệ vẫn cương quyết đòi bắt trói anh Dậu. Hắn đánh chị Dậu thô bạo và nhảy đến trói anh Dậu... * Quá trình vỡ bờ: (các sự việc) - Chị Dậu không nhịn được nữa, phản kháng mạnh mẽ, ấn dúi tên cai lệ ra cửa làm hắn ngả chỏng quèo..... - Tên người nhà lí trưởng chực đánh, chị Dậu vật nhau với hắn và cuối cùng quật ngã được anh ta... - Anh Dậu sợ hãi vừa run vừa kêu nhưng chị Dậu bảo sẵn sàng chấp nhận hậu quả... c) Kết bài: - Cảm nghĩ của chị Dậu sau sự việc: căm giận, uất ức bọn gian ác; tủi cực cho hoàn cảnh của mình... ĐỀ SỐ 5 A. PHẦN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN (3,00 điểm) Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời các câu hỏi: ...“Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu. Chị Dậu nghiến hai hàm răng: - Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem! Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khoẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp vớisức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngãchỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu. Người nhà lí trưởng sấn sổ bước đến giơ gậy chực đánh chị Dậu. Nhanh như cắt, chị Dậu nắm ngay được gậy của hắn. Hai người giằng co nhau, du đẩy nhau, rồi ai nấy đều buông gậy ra, áp vào vật nhau. Hai đứa trẻ con kêu khóc om sòm. Kết cục, anh chàng “hầu cận ông lí” yếu hơn chị chàng con mọn, hắn bị chị này túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm.” Câu 1 (1,00 điểm) Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Tên tác phẩm là gì? Tác giả là ai? Viết năm nào?Kể theo ngôi thứ mấy? Câu 2(1,00 điểm) Đoạn trích trên kể lại sự việc gì? Câu 3(1,00 điểm) Viết đoạn văn ngắn (6 đến 8 câu) trình bày cảm nhận của em sau khi đọc xong đoạntrích trên. B. PHẦN TIẾNG VIỆT (2,00 điểm) Đọc đoạn văn dưới đây và trả lời các câu hỏi: “... Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chỏ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm... Cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép dầu dùng để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng. Sọ dừa làm khuy áo, làm gáo, làm muôi.Vỏ dừa bện dây rất tốt 8
- đối với người đánh cá vì nó mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu nắng.Cây dừa gắn bó với đời sống hằng ngày là như thế đấy...” (Cây dừa Bình Định) Câu 1 (1,00 điểm) Xác định các câu ghép trong đoạn văn trên. Câu 2 (1,00 điểm) Phân tích cấu trúc của các câu ghép và xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu ghép ấy. C. TẬP LÀM VĂN (5,00 điểm) Dựa vào văn bản Lão Hạc (trích Lão Hạc - Nam Cao), em hãy nhập vai ông giáo kể lại sựviệc xảy ra từ đoạn: “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: - Cậu Vàng đi đời rồi , ông giáo ạ!”đến hết văn bản. GỢI Ý ĐÁP ÁN Nội dung Điểm A. PHẦN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN 3,00 Câu 1: - Tên văn bản: Tức nước vỡ bờ - Trích trong tác phẩm: Tắt đèn - Tác giả: Ngô Tất Tố - Viết năm: 1939 - Ngôi kể: Ngôi thứ ba Câu 2: 1,00 Đoạn trích trên kể lại sự việc: - Cai lệ hành hung chị Dậu. 0,50 - Chị Dậu quật ngã tên cai lệ và người nhà lí trưởng. 0,50 Câu 3: HS trình bày ý kiến của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải bảo đảm ý cơ 1,00 bản: - Tính chất hung hăng, tàn bạo của bọn tay sai. 0,50 - Sự phản kháng mãnh liệt và sức mạnh tiềm tàng của người người nông dân. 0,50 B. PHẦN TIẾNG VIỆT: 2,00 Câu 1:Xác định đúng 2 câu ghép: 1,00 - Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chỏ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, 0,50 kho thịt, nấu canh, làm nước mắm. - Vỏ dừa bện dây rất tốt đối với người đánh cá vì nó mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu nắng. 0,50 Câu 2: Phân tích được cấu trúc và xác định đúng mối quan hệ giữa các vế câu: 1,00 - Cây dừa // cống hiến tất cả của cải của mình cho con người (1): thân cây // làm máng (2), lá // làm tranh (3), cọng lá chẻ nhỏ // làm vách (4), gốc dừa già // làm chỏ đồ xôi (5), nước dừa // 0,25 để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm. (6.) câu ghép chỉ quan hệ giải thích. - Vỏ dừa // bện dây rất tốt đối với người đánh cá (1)vì nó // mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu 0,25 nắng (2). 0,25 câu ghép chỉ quan hệ nguyên nhân. 0,25 C. TẬP LÀM VĂN: 5,00 1. Yêu cầu chung: a) Về nội dung: Câu chuyện về cuộc đời của lão Hạc trong đoạn trích cuối tác phẩm thông qua lời kể của nhân vật ông giáo. b) Về phương pháp: Văn tự sự có kết hợp với yếu tố miêu tả, biểu cảm và nghị luận. Ngôi kể thứ nhất. c) Về kỹ năng: Nắm chắc nội dung tự sự cần kể; nhập vai nhân vật với lời kể tự nhiên, liên tưởng sáng tạo; diễn đạt tốt, bố cục bài văn chặt chẽ; độ dài hợp lí. 9
- 2. Đáp án và biểu điểm: Dàn bài gợi ý: a) Mở bài:Nhân vật tôi giới thiệu khái quát câu chuyện và cảm xúc chung khi kể lại điều đó. 0,50 b) Thân bài: 4,00 b.1.Giới thiệu về bản thân mình: 0,50 - Ông giáo trường tư, vì hoàn cảnh phải trở về quê nhà. - Cuộc sống gặp nhiều khó khăn, rất quý sách nhưng khi con ốm phải dứt ruột bán từng quyển để có tiền chữa bệnh cho con. - Sống cạnh nhà lão Hạc, hiểu được gia cảnh của lão nên cảm thông cho cảnh ngộ của lão. b.2. Diễn biến câu chuyện: 2,00 * Cuộc gặp mặt tại nhà tôi: (1,00đ) - Sáng hôm ấy, lão Hạc sang nhà tôi kể chuyện bán chó. - Những thay đổi trên khuôn mặt và lời nói thể hiện tâm trạng đau khổ của lão khi trót lừa con chó Vàng. - Khi nghe những lời an ủi của tôi, lão Hạc nói những lời ngậm ngùi, chua chát, đắng lòng. - Lão gởi tiền bán chó và tiền để dành phòng khi lão bất ngờ qua đời. Lão làm văn tự nhờ tôi giữ hộ mảnh vườn cho con trai lão. * Sau cuộc gặp mặt: (1,00đ) - Lão rơi vào cảnh đói deo đói dắt, tự chế biến các món ăn với những gì còn lại trong vườn để duy trì sự sống. - Lãotừ chối mọi sự giúp đỡ kể cả của tôi. - Binh Tư kể cho tôi nghe chuyện lão xin bả chó của hắn. - Lão Hạc tự tử bằng bả chó. Cái chết của lão Hạc thật bất ngờ và khủng khiếp. Cả làng không ai hiểu vì sao, chỉ trừ Binh Tư và tôi. b.3. Tâm trạng của người kể chuyện: 1,50 - Tôi bất ngờ khi nghe tin lão bán chó, càng thương lão nhiều hơn khi nghe lão kể và chứng kiến những chuyển biến trên khuôn mặt già nua của lão. - Ngậm ngùi xót xa trước những lời tâm sự chua chát, đắng lòng về việc bán con chó; - Ngỡ ngàng và vô cùng khâm phục khi nghe lão nhờ tôi giữ hộ mảnh vườn để lại cho con, và tiền bán chó để dành phòng lo hậu sự. - Tôi càng buồn hơn khi nghe vợ mình nhận xét về lão. - Tâm trạng buồn đau, hụt hẫng khi nghe binh Tư kể việc lão Hạc sang xin bả chó. Tôi giận vô cùng và có những suy nghĩ không đúng về lão. - Cái chết của lão khiến tôi vô cùng xót xa, tôi khâm phục lão - một con người thà chết trong hơn sống đục; tôi hứa trước hương linh của lão sẽ giữ và trao tận tay mảnh vườn cho con trai lão. c) Kết bài: 0,50 - Tôi suy nghĩ về con người của lão Hạc, về số phận của những người nông dân nghèo, về cuộc đời này. - Lão Hạc mãi mãi với tôi là một nhân cách đáng quí, đáng trân trọng. Con trai lão xứng đáng tự hào về người cha vĩ đại của mình. 10

